"Hạnh phúc là có một công việc để làm, một điều để ước mơ, một người để yêu"
tranhuuuy | 07 January, 2012 21:29
Khỏang thời gian tập luyện này có thể sẽ cực kỳ vất vả và mệt nhọc, và những dụng cụ chơi golf của bạn sẽ phải chịu đựng gánh nặng của quá trình học hỏi đó. Vì vậy, lời khuyên ở đây là bạn nên chọn những cây gậy nào cho phép bạn phát triển được kỹ năng của mình, đồng thời chịu đựng được “sự trừng phạt” của bạn dành cho chúng mà quan trọng nhất là không khiến bạn phải thay một cánh tay hay cái chân nào.
Bạn có thể mượn một bộ gậy trước khi trận đấu bắt đầu, tuy nhiên, mượn gậy trong lúc trận đấu đang diễn ra là điều cấm kỵ. Bạn cần phải có bộ gậy của riêng mình khi bắt đầu chơi để có thể tận hưởng được cái thú vị của golf.
Có 3 loại gậy mà bạn cần để trong túi gậy của mình, đó là gậy gỗ (woods), gậy sắt (irons), và gậy gạt (putter).
Những loại gậy cần thiết cho một người mới tập chơi gồm có: gậy gỗ (driver, 3 wood, 5 wood), gậy sắt (từ 3-9 và ít nhất một gậy wedge để đánh bóng từ hố cát trong trường hợp bóng của bạn rơi vào đó), và cuối cùng là một cây gậy gạt đáng tin cậy.
Những cây gậy này được đánh số không theo thứ tự số đếm. Ví dụ, bạn có một bộ gậy sắt trong túi và chúng thường được đánh số từ 3 đến 9, sau đó là PW, AW (GW), SW và LW cho gậy đánh cát. Cây gậy 3 sắt của bạn chính là cây dài nhất và có góc giữa mặt gậy và thân gậy nhỏ nhất. Chiếc gậy 4 sắt sẽ ngắn hơn gậy 3 khoảng 1/4 inch và có góc tạo bới mặt và thân gậy lớn hơn. (Đó là lý do vì sao tôi nói chúng không được đánh số đúng thứ tự).
Gậy 3 sắt là chiếc dài nhất và đánh bóng xa nhất, như vậy gậy 4 sẽ ngắn hơn và bóng đi gần hơn. Dần đến cây gậy số 9, và cuối cùng là gậy đánh cát, nó là chiếc gậy sắt ngắn nhất trong túi gậy của bạn, góc của nó vào khoảng 50 – 52 độ, với cán gậy ngắn dành cho những cú đánh đặc biệt xung quanh green.
Bạn có gậy sắt, từ 3 – 9 và gậy đánh cát. Rồi bạn có gậy gạt, cây mà bạn sẽ dùng đánh trên green. Và cuối cùng là gậy driver, cây gậy dài nhất trong túi gậy của bạn. Nó được đánh số 1. Gậy 1 wood, hay còn gọi là gậy driver, là cây gậy dài nhất và có góc mặt gậy phẳng nhất, và cũng chính là cây gậy khó đánh nhất vì nó dài và có mặt gậy phẳng
Đây là quả bom nguyên tử trong kho vũ khí của bạn nếu như bạn dùng nó hiệu quả. Bằng không, nó sẽ trở thành cỗ máy khuếch đại sai lầm. Gậy driver có bề mặt phẳng nhất vì nó được thiết kế để đánh bóng đi xa. Bề mặt phẳng của gậy cho phép bóng bay với góc nhỏ nhất, hạn chế tối đa ảnh hưởng của sức gió. Đó là lý do vì sao nó có sức mạnh khủng khiếp và khoảng cách đáng gờm như vậy nếu như được dùng đúng cách.
Tuy nhiên, đó lại là cây gậy khó sử dụng nhất trong túi gậy bởi vì độ dài của nó thường làm nó khó kiểm soát hơn những cây gậy khác. Đây cũng là nguyên nhân tôi khuyên những bạn hoàn toàn mới bắt đầu tập chơi nên dùng gậy 3 gỗ hoặc gậy 5 gỗ.
Khi còn bé, tôi được tặng 2 cây gậy gỗ 3W và 5W của Honma Club. Đầu gậy làm bằng gỗ hồ đào bọc đồng tấm. Cổ gậy to và có tiếng đặc trưng
Đây là những cây gậy dài, đánh bóng đi xa và thường được những người mới chơi dùng chủ yếu khi phát bóng hay với những đường golf dài par 5. Cái tên gỗ xuất phát từ kiểu gậy cổ được thiết kế và làm bằng gỗ nhiều năm về trước, giờ nó được làm chủ yếu bằng Titanium. Gậy gỗ thường được đánh số từ 1 đến 5, với số 1 là gậy driver có bề mặt phẳng nhất. Tuy nhiên, bây giờ, gậy gỗ có thể lên đến 9 và được đánh số từ 1-9.
Ở điều kiện sân Việt Nam, người chơi thường sử dụng gậy PW và SW
Gậy sắt được dùng cho những cú đánh với khoảng cách ngắn hơn như là phát bóng trên đường golf par 3 hay đánh quanh green. Đầu gậy được làm bằng thép hoặc sắt, và cũng được đánh số từ 1 trở lên. Chủ yếu là bạn sẽ thấy một bộ gậy sắt chuẩn được đánh số từ 3-9, với gậy 3 sắt là cây dài nhất và có mặt phẳng nhất trong bộ gậy sắt.
Ngoài ra còn có những cây gậy sắt đặc biệt gọi là gậy wedges. Một túi gậy chuẩn thường có 1 cây sand wedge (SW), với góc tạo bới mặt và thân gậy từ 54- 58 độ, và một gậy pitching wedge (PW), với góc từ 45- 50 độ. Gậy SW thường được dùng để đánh bóng ra khỏi hố cát và gậy PW được thiết kế cho những cú đánh nhẹ quanh green.
Vài tay golf chọn dùng thêm gậy gap wedge (GW), với góc từ 50- 52 độ. Mặt gậy GW này có độ võng trung bình giữa gậy SW và gậy PW. Cuối cùng là gậy loft wedge (LW), với góc từ 60- 64 độ.
Bạn nên dùng gậy SW và PW chuẩn khi bắt đầu chơi, và sau đó khi kỹ năng của bạn đã phát triển, bạn có thể thêm những cây gậy wedge khác vào túi gậy của mình.
Gậy lai là loại gậy hiện đại, thay thế cho gậy 3 và 4 sắt đang dần trở nên lỗi thời với những tay golf hàng đầu hiện nay. Cũng như những cây gậy sắt đầu tiên trong bộ gậy, gậy hybrid wood có bề mặt khá phẳng giúp các golf thủ đánh bóng ra khỏi rough hoặc đánh từ fairway đến gần cờ hơn.
Hình ảnh so sánh giữa gậy sắt (ngoài cùng bên trái) và các gậy lai cho thấy gậy lai có thiết kế cổ gậy giống như gậy sắt nhắm giảm thiểu chấn động khi đánh xuống mặt sân
Mặc dù gậy lai cực kỳ hữu ích hơn nhiều so với những cây gậy sắt số nhỏ trong bộ gậy nhưng đối với người mới chơi, những đặc tính tiên tiến đó lại không mấy lợi ích. Vì vậy bạn nên dùng gậy sắt cơ bản khi bắt đầu chơi rồi từ từ nâng cấp lên gậy lai sau khi đã thành thục
Gậy gạt là thứ được sử dụng nhiều nhất trong golf. Thử nghĩ xem, nếu một tay golf thực hiện 2 cú gạt trên mỗi green, tức là anh ta phải sử dụng gậy gạt 36 lần trong mỗi vòng đấu. Và chắc chắn rằng nhiều người mới tập chơi sẽ phải dùng nhiều hơn con số đó.
Có nhiều loại gậy gạt trên thị trường hơn bất kỳ loại gậy nào khác, và đó cũng là loại gậy đỏm dáng nhất. Có thể là vì việc chọn một cây gậy gạt là một việc mang tính cá nhân. Không có gậy gạt nào là “đúng”, đơn giản là chỉ có gậy gạt nào là phù hợp với bạn mà thôi.
Thường có 3 loại đầu gậy gạt, và chiều dài cũng chia làm 3 loại. Đầu gậy có thể là loại truyền thống, trông như một lưỡi dao, loại heel-toe, hoặc loại vồ (mallet). Về chiều dài thì có chiều dài bình thường (standard), ngắn đến bụng (belly), và cực dài như cán chổi (broomstick).
Ngoài ra, để tránh cho các bạn khỏi bối rối trong việc lựa chọn gậy cho mình, Golf World Việt Nam xin khuyến nghị đến độc giả 2 bộ gậy chuẩn dành cho người mới làm quen với golf, được đánh giá lả dễ sử dụng nhất.
| Set 1
| Set 2 |
|
|
Golfitor
Nguồn: http://www.golfworld.vn.
tranhuuuy | 07 January, 2012 20:51
TS Đinh Xuân Quân
LB: Một bài viết hay về phân tích lựa chọn chính sách.
Kinh Tế - Trung Quốc và ASEAN
Trung Quốc phát huy “ảnh hưởng mềm” và đã có 10 năm để vuốt ve các nước ASEAN vì Mỹ bận rộn với Trung Đông, Afghanistan và Iraq và từ 2008 bị kẹt vì khủng hoảng tài chính.
Phát triển kinh tế và quân sự mạnh, không bị anh hưởng khủng hoảng tài chính cho nên Trung Quốc cảm thấy cần ra oai, gây căng thẳng tại vùng Bắc Á – Biển Hoa Đông và tại vùng Nam Á - Biển Đông. Ảnh hưởng Trung Quốc về thương mại và kinh tế ngày càng lớn tại Á châu.Thương mại Trung Quốc – ASAEAN đi từ $ 7.96 tỷ năm 1991 lên đến $ 292.78 tỷ năm 2010 và lên đến 171.92 tỷ trong 6 tháng đầu 2011, tăng 37 lần từ 1991-2010.
Năm 2002, Trung Quốc đề ra Hiệp Định Tự Do Thương Mại với ASEAN (ASEAN China Free Trade Area -ACFTA). Năm 2004 hai bên ký về hàng hoá; 2007 về dịch vụ; và 2009 về đầu tư. Vào 2010, thuế quan trung bình cho hàng hoá là 0.1% cho 90% các mặt hàng và thuế quan cho các hàng Trung Quốc vào ASEAN còn 0.6%.
| Quốc gia | Thủ Đô | Diện Tích (km2) | Dân số (2008) | (tỷ USD, 2008) | Tiền tệ | |
| 5,765 | 490,000 | 19.7 | ||||
| Burma (Myanmar) | 676,578 | 50,020,000 | 26.2 | |||
| 181,035 | 13,388,910 | 11.3 | ||||
| 1,904,569 | 230,130,000 | 511.8 | ||||
| 236,800 | 6,320,000 | 5.4 | ||||
| 329,847 | 28,200,000 | 221.6 | ||||
| 300,000 | 92,226,600 | 166.9 | ||||
| 707.1 | 4,839,400 | 181.9 | ||||
| 513,115 | 63,389,730 | 273.3 | ||||
| 331,690 | 88,069,000 | 89.8 | ||||
| 9,640,821 | 1,338,612,968 | 4,327.4 | ||||
Hiện nay đối với Trung Quốc khối thương mại ASEAN-Trung Quốc đứng thứ ba, chỉ sau TQ- Mỹ và TQ- EU mà thôi.
Trước đây Nhật cũng muốn thương thuyết với ASEAN để cân đối với Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương gọi là TPP. Nhật và Trung Quốc sẵn sang cùng ký với ASEANvề thương mại bao gồm khối ASEAN + 5 FTA nghĩa là 10 nước ASEAN và Úc, TQ, Nhật, Tân Tây Lan và Nam Hàn.
Tại Hội Nghị Bali vào 18 tháng 11, 2011 vừa qua, TT Ông Gia Bảo đề nghị hợp tác thêm về vấn đề biển, một quỹ hợp tác ASEAN-TQ $472.6 triệu và hợp tác về phát triển bền vững. Trung Quốc ký 4 hiệp ước trao đổi tiền (currency swap) với Indonesia, Malaysia, Singapore và Thailan nhân chuyến viếng thăm của ông Tập Cận Bình. Trung Quốc khuyến khích các nước này dùng đồng Nhân Dân Tệ (NDT) thế đồng dollar.
Mỹ và ASEAN
Thương mại giữa Mỹ và ASEAN đi từ $23 tỷ vào 1980 lên đến $80 tỷ vào 1996; $149.6 tỷ vào 2009; và $186.1 tỷ vào 2010.
Năm 2002, Mỹ đưa ra đề nghị hợp tác mới với ASEAN gồm các lãnh vực: điện toán, canh nông, y tế, chống thiên tai, và đào tạo. Tại Manila Mỹ đề nghị thương mại và đầu tư gọi là “ASEAN-US Trade and Investment Framework Agreement (TIFA)”. Các nước muốn thì có thể ký tự do thương mại song phương với Mỹ hay “FTA”. Mỹ và các nước ASEAN ký nhiều chương trình hợp tác về giáo dục; về thiện nguyện (ASEAN youth volunteers), về canh nông và an toàn lương thực (Feed the Future initiative), về hàng hải (Southeast Asia Maritime Partnership - SAMP), về nâng cao hiệu nghiệm thương mại qua một cửa (ASEAN Single Window); thương mại tàu thuỷ, rao đổi kinh nghiệm thương mại (U.S. business to ASEAN), quỹ hạ tầng của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu với $600 triệu), v.v..
Về ngoại giao và an ninh, các nước ASEAN đánh giá cao các cố gắng của Hoa kỳ 1/ nhưng theo họ về mặt kinh tế, Mỹ quá nhường cho Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn hay Ân Độ. Theo họ, Mỹ cần tăng gia các trao đổi và hợp tác kinh tế.
TT Obama đã gặp các lãnh đạo của 10 nước ASEAN.2/ Với dân số 600 triệu và GDP $1.5 ngàn tỷ, ASEAN là bạn hàng thứ tư của Mỹ. Các nhà lãnh đạo đã chấp nhận thực thi một kế hoạch 5 năm (Five-year ASEAN-United States Plan of Action) một lộ trình gia tăng sự hợp tác giữa hai bên.
Tại Hawaii TT Obama thúc đẩy đàm phán Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương hay Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement còn gọi là TPP gồm 9 thành viên, khởi động từ 2005. TPP nhằm xây dựng một khu vực thương mại tự do 2 bên bờ Thái Bình Dương (mà không có TQ).3/ Rút kinh nghiệm WTO mà TQ không giữ các cam kết mở thị trường và vì chính sách “vừa con buôn thủ lợi, vừa bảo vệ nền công nghệ nội địa”, để cướp nhiều kỹ nghệ của Hoa Kỳ, Mỹ đề nghị TPP - một tiến trình hội nhập tư do thương mại kinh tế liên quan tới 9 nền kinh tế năng động, chiếm 25% sản lượng kinh tế thế giới, có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là 16,000 tỷ USD trong một thị trường với 472 triệu dân. Các nước ASEAN tham gia TPP gồm Singapore, Malaysia, Brunei và Vietnam chưa kể Úc, Tân Tây Lan, Chile, Peru, Canada, Mexico và Nhật.4/ Tại Bali, bà Hillary Clinton nhấn mạnh về việc cạnh tranh kinh tế trong suốt và bình đẳng.
Thách thức của ASEAN –Theo mô hình Trung Quốc hay mô hình Mỹ?
Từ năm 2010 tình hình thay đổi hẳn. Trung Quốc có nhiều hành động hăm dọa các nước tại Biển Hoa Nam (Biển Ðông) và Biển Hoa Ðông, đối đầu với Nhật. Năm 2011 Trung Quốc cắt cáp các tàu tham dò dầu VN trong khu vực độc quyền kinh tế VN, hăm doạ Philippines, và các nước trong vùng Thái Bình Dương. VN xích gần Hoa kỳ để cân bằng Trung Quốc tại Biển Đông.5/ Trung Quốc gởi tàu ngư chính tuần tra tại vùng Hoàng Sa, đe dọa các tàu đánh cá VN, hù dọa tàu hải quân Ấn trong lãnh hải VN, v.v.
Trong quá khứ, Mỹ đã có thái độ nhân nhượng đối với Trung Quốc nhưng nay chính sách đã thay đổi. Về con số thì năm 2010, ASEAN đứng thứ 5 về thương mại hai chiều với Mỹ ($178 tỷ - tăng 132%) trong thập niên qua. Các nước ASEAN với dân số bằng phân nửa Trung Quốc nhập hàng của Mỹ bằng Trung Quốc. Đầutư của Mỹ vào ASEAN là $153.3 tỷ năm 2008 cao hơn Nhật là $74.1 tỷ và TQ là $107.6 tỷ. Do vậy Hoa kỳ đang cố gắng hơn về kinh tế-thương mại.
Thái độ Trung Quốc không những làm cho các nước láng giềng ASEAN lo lắng mà còn khiến cả Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Úc không yên tâm, vì không chỉ là tranh giành tại Biển Đông, Trung Quốc còn biểu lộ tham vọng kiểm soát cả Ấn Độ Dương6
Vì thế Hoa Kỳ phản công cả quân sự và kinh tế. Trong chuyến công du của TT Obama tại Úc, ông cho triển khai 2,500 quân tại Darwin. Tại Hawaii, ông thúc đẩy TPP - xây dựng một khu vực thương mại tự do ở 2 bên bờ Thái Bình Dương mà không có TQ.Tại Bali ngày 19/11/2011, Biển Đông đã được quốc tế hoá và TT Obama tái xác định lập trường “tự do lưu thông” tại Biển Đông và nhắc là các tranh chấp chủ quyền phải dựa trên luật quốc tế kể cả luật Biển của LHQ gọi là UNCLOS. Nhật cũng thay đổi lập trường tham gia bên cạnh Mỹ.
Nay ASEAN đứng trước lựa chọn: Tự do thương mại với Trung Quốc gọi là ACFTA hay tự do thương mại với Mỹ gọi là TPP.
Các nước ASEAN biết chính sách của Trung Quốc là mua các sản phẩm – linh kiện từ các nước Á châu - mang về ráp và tái xuất cho các nước tân tiến (Mỹ, Nhật, Nam Hàn, EU, vv). Trung Quốc sẽ không chia sẻ kỹ thuật với các nước ĐNÁ trừ các công nghiệp thấp, ô nhiễm như việc Trung Quốc đang làm tại Á châu và Phi Châu.
Các nước như Malaysia, Singapore, VN, Thailan, và Indonesia vẫn phải dựa vào kỹ thuật và nền giáo dục của Mỹ để tiến. Vì vậy Mỹ vẫn đầu tư trực tiếp vào các nước này, 8.5% so với TQ 3.8 %, hay $3.4 tỷ so với $1.5 tỷ của TQ trong năm 2009. Do đó ta thấy sự xích gần của ASEAN về phía Mỹ.
Các nước ASEAN sẽ thương lượng với Mỹ và với Trung Quốc, trước khi họ đi đến lựa chọn. Riêng Việt Nam, trong bối cảnh chính trị và kinh tế như thế, thì sẽ làm gì?
Khía cạnh Thương mại:
Thương Mại Việt - Mỹ
Theo bureau of census của Mỹ, từ khi có ký kết về thương mại BTA (Bilateral Trade Agreement) tình hình thương mại Việt Mỹ như sau:
| Năm | Xuất khẩu | Nhập Khẩu | Cán cân |
| 2011 | 3,581.3 | 14,579.6 | -10,998.2 |
| 2010 | 3,708.9 | 14,867.8 | -11,158.9 |
| 2009 | 3,097.2 | 12,287.8 | -9,190.6 |
| 2008 | 2,789.4 | 12,901.1 | -10,111.6 |
| 2007 | 1,903.1 | 10,632.8 | -8,729.8 |
U.S. trade in goods with Vietnam - NOTE: All figures are in millions of U.S. dollars on a nominal basis, not seasonally adjusted unless otherwise specified.Details may not equal totals due to rounding.
Theo bản này thì Mỹ nhập siêu từ VN và cán cân thương mại có lợi cho phía VN.
Thương Mại Việt-Trung
Đối với Trung Quốc thì bản sau đây cho thấy VN nhập siêu $12.37 tỷ trong 11 tháng 2011. VN xuất $9.68 tỷ trong khi nhập $22.05 tỷ.7/ Thương mại Việt-Trung qua ngã chính thức như sau:
| Năm | Xuất khẩu | Nhập Khẩu | Cán cân |
| 2011 |
|
| -12,370 |
| 2010 |
|
| -12,710 |
| 2009 |
|
| -11,632 |
| 2008 |
|
| -11,116 |
| 2007 |
|
| -9,145 |
Xuất khẩu của VN qua Trung Quốc tăng nhưng vẫn nhập siêu. Năm 2007, nhập siêu của VN là 64% tổng số nhập siêu của cả nước; Năm 2008 nhập siêu lên 61% (xem bản trên); 2009 thì là 90% và 2010 trở thành 105% tổng số nhập siêu, chưa kể hàng hoá và dịch vụ không qua ngõ chính thức. VN ngày càng tuỳ thuộc vào hàng TQ.
Việc mất cân bằng thương mại với TQ sẽ gây nhiều khó khăn vì VN phải nhập ¼ đầu vào để có thể xuất khẩu. 55% hàng xuât khẩu của VN gồm sản phẩm hầm mỏ (than, cao su và dầu thô) và vào 2012 sẽ có bauxite, trong khi nông phẩm chỉ là 15% hàng xuất qua TQ. VN cần nhập 5 loại hàng: máy móc và phụ tùng, dầu xăng, thép, phân bón, và đầu vào cho ngành may mặc. Năm 2010, 56% thép, 40% phân bón, 70% đầu vào hàng may mặc và 17.7% dầu khí là từ Trung Quốc. VN còn tính mua thêm điện từ TQ. Vậy làm sao cân bằng thương mại Việt-Trung hầu tránh lệ thuộc?
Kinh tế VN hay giấc mơ hoá rồng
Vì muốn hoá rồng cho nên kinh tế VN chép mô hình “theo định hướng XHCN của TQ.” Do đó VN biện minh việc này qua chính sách dễ dãi về tiền tệ, tín dụng và khuyến khích chi tiêu công. Theo báo VietNamNet ngày 29/12/2011 thì nền kinh tế năm 2011 như sau:
Lạm phát ở mức 18,58%, cao nhất Á châu. [Nếu xét kỹ lạm phát còn có thể cao hơn]. Nghị quyết 11 đã giúp kiềm chế chi tiêu công và xa xỉ, tập trung vào việc thắt chặt tín dụng và tài khoá.
Kinh tế VN trong 2011 không đạt được các chỉ tiêu đề ra:
| Chỉ Tiếu Kinh Tế Việt Nam 2011 | Mục Tiêu | Thực hiện |
| Tăng trưởng | 7.5% | 5.8% |
| Lạm phát | 7% | 18.58% |
| Cung tiền | 20% | 40% |
| Tín dụng | 30% | 40% |
| Doanh Ngiệp phá sản |
| 49,000 |
Theo TS Lê Đăng Doanh đây là tình trạng khó khăn nhất trong 20 năm qua.9/ "Đầu tư 100 đồng thì hàng hóa, tài sản tạo ra được có lẽ chỉ khoảng 40, 50 đồng, còn lại 60, 50 đồng kia nó bốc hơi." Nó bắt nguồn từ tình trạng đưa tiền vào lưu thông ở mức 32% và tăng trưởng tín dụng lên tới trên dưới 40% (so với khoảng 9% của 2011) trong nhiều năm và theo ông "Vì đưa nhiều tiền ra mà của cải tạo ra ít thì bị nguy cơ lạm phát." [Các chính sách tài chính tín dụng đẩy nền kinh tế vượt quá xa khả năng phát triển tiềm năng của nó]. Theo TS Nguyễn Quang A 10/ "Lạm phát ở mức 18.58% đã giáng xuống hàng chục triệu người ở VN." Các báo cáo cho thấy địa ốc ở VN ở mức đóng băng, lĩnh vực xây dựng chậm lại do nghị quyết 11 hạn chế đối với đầu tư công, và tín dụng bị thắt chặt. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa phải dựa vào những nguồn tín dụng “đen” và từ đó đi tới kết cục phá sản (49,000 DN).
Các báo cáo của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB), của Bloomberg hay của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đều cho thấy lạm phát ở VN là một nguy cơ. Đồng VN bị phá giá mấy lần trong năm. Ðời sống người dân hết sức khó khăn.Thua lỗ của các tập đoàn kinh tế quốc doanh hay DNNN như tổng công ty xăng dầu Petrolimex, Tập Ðoàn Ðiện Lực VN - EVN, Tổng Công Ty Hàng Hải VN, v.v. sẽ ảnh hưởng xấu đến kinh tế VN.
Nói tóm lại, kinh tế VN yếu vì:
1) cơ cấu kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh: luật pháp yếu, bị lạm dụng, độc quyền, vừa đá banh vừa thổi còi, thiếu tự do báo chí giúp tố tham nhũng - Nhà nước thay vì quản lý và thực thi luật pháp thì lại tham gia trực tiếp vào làm kinh tế.
2) Theo đuổi tăng trưởng GDP qua vay mượn và đầu tư công kém hiệu quả đã đưa kinh tế đến khủng hoảng từ 2008 đến nay.
Các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước kêu gọi VN phải cải cách các cơ cấu và các DNNN.
Tạm Kết: thoát khỏi khủng hoảng bằng lối nào?
Thông điệp đầu năm 2012 của TT Dũng nhấn mạnh “Đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển bền vững". Cùng với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong năm 2012, Chính phủ sẽ tiếp tục tăng cường ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội." “Theo ông thì thể chế kinh tế thị trường vẫn chưa đồng bộ, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa hình thành đầy đủ. Thị trường đất đai còn nhiều vướng mắc. Thị trường tài chính phát triển không cân đối, thị trường trái phiếu còn sơ khai, thị trường chứng khoán thiếu chiều sâu… Giá cả một số hàng hóa và dịch vụ chưa bù đắp được chi phí, chưa theo cơ chế thị trường, làm cản trở việc thu hút nguồn lực và công nghệ cao cho phát triển.” Theo ông thì điều kiện để thị trường vận hành thông suốt là “hiệu quả”.
Nhu cầu cải cách cơ cấu là cấp bách. Muốn thoát khỏi lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc VN cần thoát khỏi mô hình “tăng trưởng GDP qua tín dụng” và đầu tư bằng cách xây dựng mô hình “kinh tế thị trường trong suốt và hiệu quả”. Các vấn đề sau đây cần chú ý:
Muốn tăng trưởng bền vững, muốn độc lập và bảo vệ chủ quyền, VN cần cải cách cơ cấu – luật pháp và cách làm việc để có một kinh tế thị trường trong suốt và hiệu quả. Kinh nghiệm các nước Á châu cho thấy khó mà tự cải cách – cần có trợ giúp từ phía bên ngoài sau khi bị khủng hoảng. Tại Á châu năm 1996 các nước đã cải cách toàn diện với sự trợ giúp từ bên ngoài và hậu quả là họ tránh được các khó khăn năm 2008. Phải phát triển kinh tế có hiệu quả, như phát biểu của TT Dũng.
Lối ra cho khủng hoảng kinh tế: cái phao cho VN là tham gia vào TPP một cách tích cực. Cạnh tranh kinh tế trong suốt và bình đẳng sẽ giúp DN Việt Nam có thể chơi với quốc tế, nhất là luật phía TPP sẽ rõ ràng và môi trường sẽ thông suốt.
TS Đinh Xuân Quân
1/ ASEAN Questions US - By Murray Hiebert - August 19, 2011 The Diplomat
2/ The White House Office of the Press Secretary For Immediate Release November 20, 2011
3/ Xin coi bài của cùng tác giả trên Diễn Đàn Thế kỷ www.Diendantheky.net
4/ (Washington Post, November 13; Global Times, November 19; Mainichi Daily [Tokyo] November 13).
5/ Xin coi bài của cùng tác giả trên “Quan Hệ Việt-Mỹ trong năm 2010”
6/ Xin coi bài của cùng tác giả trên Diễn Đàn Thế kỷ (www.Diendantheky.net) “Nhân kỷ niệm 23 năm trận Trường Sa, sức mạnh Hải quân Trung Quốc ảnh hường đến Thái Bình Dương,” về chuỗi hạt trai tại Ân Độ Dương.
7/ http://vietnambusiness.asia/vietnam-runs-12-37-bln-trade-deficit-with-china-in-11m2011/
8/ Agence France-Presse, 28/12/2011 – “Vietnam trade deficit hits decade low in 2011”
9 / BBC 15/12/2011 TS Lê Đang Doanh 15/12/2011
10/ BBC 30/12/2011 TS Nguyễn Quang A
tranhuuuy | 04 January, 2012 15:16
Trần Hữu Dũng
LB: “Ở Sen, ta thấy một trí thức trong nghĩa tốt đẹp và chính xác nhất của danh hiệu này mà cuộc sống luôn hướng về hạnh phúc và khổ đau của đồng loại, ông rất gần gũi với những âu lo căn bản nhất của con người” Amarty Sen, nhà kinh tế học gốc Ấn, là người châu Á đầu tiên nhận giải Nobel kinh tế năm 1998, rất nổi tiếng với lý thuyết kinh tế học phúc lợi xã hội. Xin giới thiệu bài viết về ông của TS Trần Hữu Dũng.
Đa số người ngoài ngành (và cả nhiều người trong ngành) thường nghĩ đến kinh tế như một khoa học giúp hoạch định những chính sách để quản lý, để phát triển, để tăng trưởng, để bình ổn. Những người có thiên kiến này sẽ ngạc nhiên khi đọc Amartya Sen, nhà kinh tế gốc Ấn Độ, người được Ngân hàng Quốc gia Thụy Điển trao tặng giải Nobel Kinh tế năm 1998. Ông là người châu Á đầu tiên được Nobel về ngành này.
Tuy đã đến tuyệt đỉnh danh vọng, Sen được ngưỡng mộ không chỉ vì những phần thưởng cao quý, nhưng còn vì kiến thức đa diện và quảng bác của ông, và vì lương tri của ông đối với những vấn đề xã hội, không những của quê hương ông mà còn của cả những quốc gia đang phát triển. Được trọng vọng trong xã hội trí thức cao nhất ở Tây phương (ông giảng dạy ở Cambridge từ năm 1971, và cũng có nhiều năm ở Harvard), Sen không bao giờ ngưng ưu tư về phúc lợi của những người bần cùng. Là một nhà kinh tế với kỹ năng toán logic vào hạng thượng thừa, ông cũng thấm nhuần triết học, Tây lẫn Đông. Là người có những đóng góp nền tảng cho kinh tế học hiện đại, Sen cũng hoài nghi về nhiều mặt của thứ kinh tế học này.
*
Từ nhỏ, Sen đã chứng kiến cũng như trải nghiệm những tai họa khó tưởng tượng. Năm 1943, khi Sen vừa lên mười, Bengal (quê ông, một tỉnh vùng đông bắc Ần Độ, nơi có mật độ dân số thuộc hạng cao nhất thế giới) bị một nạn đói khủng khiếp. Năm 19 tuổi, ông bị ung thư vòm miệng, và đã điều trị bằng xạ trị (rất thô sơ lúc ấy ở Ấn Độ) vô cùng đau đớn. (Hậu quả giai đoạn xạ trị này vẫn còn đến ngày nay: xương Sen bị dễ gãy, răng cỏ của ông đều hư). Như Sen kể lại sau này, chính sự đau đớn ấy đã cho ông mối đồng cảm sâu xa với những người cùng khổ. Ung thư làm ông cảm thấy bị ô nhiểm, loại ra ngoài xã hội, bất lực. Trước khi bị bệnh, những gì ông chứng kiến chung quanh đã làm ông kinh hoàng, nhưng dù sao vẫn là xảy ra cho “kẻ khác”. Chính ung thư của ông đã khiến Sen đồng cảm trọn đời với những người thấp cổ bé miệng, bị thiếu thốn, bệnh tật, đớn đau.
Nhưng cũng nhờ vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo ấy mà Sen đặt cho mình những mục tiêu mới. Trở lại trường, ông là một sinh viên ưu tú hàng đầu, đoạt tất cả mọi giải thưởng cao quý nhất, và được học bổng sang đại học Cambridge danh giá tột bực nước Anh.
*
Những năm đầu trong sự nghiệp, vào thập kỷ 1960, Sen chuyên về kinh tế học phát triển và có nhiều đóng góp đáng kể vào tiến trình công nghiệp hoá của Ấn Độ. Quyển sách đầu tay của Sen (Sự chọn lựa kỹ thuật, 1960) chỉ trích thể chế kế hoạch của Ấn Độ lúc ấy. Ông nhấn mạnh rằng có những định luật kinh tế bất biến mà mọi quốc gia đều phải tuân theo. Không kế hoạch nào, dù khôn khéo đến đâu, có thể đi ngược những định luật ấy.
Nhưng sau đó thì Sen bắt đầu suy nghĩ về những vấn để căn bản hơn. Khi tìm hiểu về nạn đói ở Bengal (mà số người chết có thể đến 4 triệu), ông khám phá một điều bất ngờ: Nạn đói ấy không phải vì mùa màng thất bát như vẫn tưởng nhưng vì chế độ chuyên chế lúc ấy! Đúng là người ta chết vì không có thực phẩm, nhưng họ không có thực phẩm chẳng phải vì cả nước không đủ thực phẩm cho mọi người, nhưng vì họ thất nghiệp, không có tiền mua (thêm vào đó là tình trạng lạm phát). Điều hệ trọng nhất là họ không có cách gì kêu ca được vì không ai đại diện cho họ, mà báo chí cũng thiếu tự do, do đó nhà nước không bị một áp lực nào để lo cho những người cùng khổ, thấp cổ bé miệng, ấy. Để kiểm chứng giả thuyết của mình, Sen tìm hiểu nguyên nhân nạn đói ở những nước khác, nhất là ở châu Phi, thì hầu hết cũng là vì xã hội thiếu dân chủ: thực phẩm không thiếu cho toàn xã hội, nhưng chính sự phân bố bất bình đẳng đã khiến hàng triệu người chết đói.
Sen là một trong những kinh tế gia tiên phong chỉ trích quan niệm phổ thông là có thể dùng GDP đầu người để đo lường phúc lợi xã hội. Sen viện dẫn những lý luận triết học từ Aristotle cỗ xưa, qua Hayek, và Rawls hiện đại để khẳng định rằng thước đo của một “xã hội tốt” là tự do, chứ không phải là sự thịnh vượng vật chất. Chính xác hơn, sự phồn vinh vật chất chỉ là điều đáng mong muốn như một phương tiện thực hiện tự do cho con người (căn bản nhất là tự do khỏi đói khát, bệnh tật). Sen khẳng định: tự do vừa là mục tiêu tối hậu, vừa là thành tố để phát triển kinh tế. Theo ông, những mục tiêu mà các nhà kinh tế thường cho là tối hậu: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ công nghệ, ngay cả hiện đại hoá, phải được đánh giá bởi mức độ đóng góp của chúng vào tự do của con người.
*
Từ đầu thập niên 1970, Sen quay sang một hướng nghiên cứu mới, về lý thuyết phúc lợi xã hội, một ngành trong kinh tế học cực kỳ trừu tượng và lý thuyết. Chính trong lĩnh vực này mà Sen để lại dấu ấn khó phai.
Đặc điểm của lý thuyết tổng quát về phúc lợi xã hội của Sen là sự kết hợp quan tâm truyền thống của kinh tế học đối với mức sống vật chất và quan tâm truyền thống của triết học đối với tự do cá nhân và sự công bằng.
Nên nhắc lại rằng vào hai thập kỷ 1930-1940, những người theo chủ nghĩa tự do (libertarian) ở phương Tây thường quan ngại rằng phương Tây sẽ bỏ những cam kết theo đuổi chủ nghĩa tự do chính trị để theo đuổi an toàn kinh tế. Kế thừa truyền thống này, Sen lo ngại rằng, ở thế hệ tiếp theo, Ấn Độ và các nước đang phát triển đã hi sinh dân chủ để có được tăng trưởng kinh tế. Từ những nhận xét ấy, Sen đặt ra câu hỏi thật căn bản: Làm thế nào để giải quyết những xung khắc giữa những hành động xã hội (social action), chẳng hạn như để phát triển kinh tế, và giá trị cá nhân (individual rights) mà những người theo chủ nghĩa tự do cho là độc tôn.
Sen nêu ra ba câu hỏi. Thứ nhất, chọn lựa của một xã hội có phản ảnh sự chọn lựa của những cá nhân trong xã hội ấy không? Thứ hai, quyền tự do cá nhân có thể dung hoà với phúc lợi kinh tế không? Và thứ ba, lấy gì để làm thước đo mức độ công bằng của một xã hội? Đây là những câu hỏi cực kỳ “hóc búa” chứ không dễ như nhiều người tưởng, nhất là khi lời giải đáp phải thoả mãn một số định đề logic tối thiểu.
Vào đầu những năm 1960, khi Sen đi tìm giải đáp cho những câu hỏi ấy thì có hai luồng tư tưởng, dù khác nhau nhưng đều cho rằng sự xung khắc ấy không thể dung hoà được. Một trường phái, mà lãnh tụ là nhà kinh tế Friedrich Hayek, thì cho rằng không thể tin vào nhà nước, vì nhà nước sẽ bị một nhóm chuyên viên khuynh đảo, áp đặt ý muốn của họ lên ý muốn của những cá nhân khác trong xã hội. Bằng cách thay thế ý muốn của cá nhân bằng ý muốn của xã hội (như xác định bởi những chuyên viên này), nhà nước tước đoạt sự tự do cá nhân.
Luồng tư tưởng thứ hai đến từ một nguồn khá bất ngờ, qua tác phẩm cực kỳ thời thượng của nhà kinh tế Kenneth Arrow (cuốn “Chọn lựa xã hội và giá trị cá nhân”, 1963). Dùng những mệnh đề logic chặt chẽ, Arrow chứng minh (“định luật Arrow”) rằng không thể có một hệ thống bỏ phiếu nào có thể đưa đến một chọn lựa dân chủ. Viện dẫn “định luật Arrow”, nhiều người đã cho rằng đó là một lý do của chế độ độc tài.
Vì lôgic của Arrow không thể kiểm chứng bằng thực nghiệm, Sen phản biện Arrow trên chính sân chơi của Arrow: hoàn toàn trên phạm trù lôgic. Sen vạch ra rằng một trong những tiền đề của Arrow – rằng không thể so sánh phúc lợi của người này với người kia – là thiếu căn bản và không cần thiết, và nếu loại bỏ tiền đề này thì “định luật không thể” của Arrow trở thành “có thể”, nghĩa là qua bỏ phiếu, có thể tổng hợp những giá trị cá nhân thành một quyết định duy nhất của cộng dồng. Nói khác đi, có cách bỏ phiếu để đưa đến những quyết định được sự đồng thuận của toàn xã hội. Khám phá này của Sen đã mở đường cho những nhà kinh tế lý thuyết tìm kiếm những cách để thẩm định phúc lợi của con người tương thích với quyết định cộng đồng. Một trong những ứng dụng của nó là tìm cách đo lường sự nghèo khổ của con người trong xã hội.
Chính nhờ Sen mà các nhà kinh tế trở nên dè dặt hơn khi đánh đồng phúc lợi với GDP. Theo Sen, GDP không phản ảnh “cơ hội” kinh tế của con người, và chính số lượng cơ hội đó là đóng góp rất nhiều vào hạnh phúc của cá nhân, không kém gì số lượng của cải vật chất hiện có.
Nhiều học giả (như Eric Maskin, Nobel 2007) cho rằng tự do cá nhân và phúc lợi đôi khi xung khắc: muốn thêm cái này thì phải bớt cái kia. Sen bác bỏ ý kiến này. Theo ông, tự do là một cách để bảo vệ phúc lợi. Quyền được đọc bất cứ gì mà anh muốn (thay vì bị người khác bảo anh phải đọc cái gì), chẳng hạn, thường nâng cao thu nhập.
Chỉ trích chủ nghĩa vị lợi (utilitarianism) Sen lập luận rằng không thể lấy (tốc độ) tăng trưởng kinh tế để thẩm định lợi ích bởi nó không cho thấy những người thật sự thiếu thốn đang sung sướng hoặc khổ sở ra sao. Và cách đo dụng ích (utility) căn cứ trên sư ưa chuộng hiện tại của mỗi cá nhân cũng có thể đưa đến nhiều sai lầm vì người ta hay thích ứng nguyện vọng của mình tùy vào hoàn cảnh hiện có (chẳng hạn như một người nghèo có những ưa chuộng khác người giàu vì họ biết họ nghèo...)
Tuy coi trọng vấn đề dân chủ và tự do, Sen cũng nhìn nhận rằng phát triển kinh tế là một đòi hỏi cấp bách (và ông buồn rầu nhìn nhận rằng Ấn Độ đã thua kém Trung Quốc về mặt này). Cụ thể, vì coi trọng cả phát triển và dân chủ, Sen (và những nhà kinh tế tâm đắc với ông) tìm cách làm sao để phát triển mà không hi sinh dân chủ (như đang xảy ra ở nhiều nước). Sen cho rằng sự đánh đổi ấy (muốn thêm cái này thì phải bớt cái kia) là không thể chấp nhận được, bởi lẽ, theo ông, cả hai đều có giá trị tự tại.
*
Trong nhiều thập kỷ, tiếp cận của Sen đã bị chỉ trích bởi phe tả lẫn phe hữu. Vào những năm 1950, 1960, khi mà kế hoạch hoá kiểu Liên Xô là thời thượng trong giới kinh tế cánh tả thì Sen bị xem là người “phản đạo” . Nhưng sang những năm 1980, 1990 khi mà chủ nghĩa thị trường tự do (của phe hữu) lên ngôi thì chính chủ khảo giải Nobel đã tiên đoán: “Sen sẽ không bao giờ được Nobel”. Sen nhận Nobel năm 1998.
Chứng kiến sự sụp đổ của chính sách kế hoạch hoá kiểu Xô Viết cũ, Sen không còn tin là phát triển kinh tế cần đến ngoại viện, hoặc cần bảo hộ thương mại. Ông tin nhiều hơn vào vai trò của nội lực trong phát triển. Ông cổ vũ mở cửa cho thương mại và đầu tư nước ngoài, nhưng đồng thời nhà nước cũng phải trợ giúp thành phần có thu nhập thấp, nhất là về giáo dục, y tế và dinh dưỡng.
Trong quyển sách mới đây nhất của Sen (Ý niệm công lý, 2009), ông suy nghĩ thấu đáo về những khó khăn trong định nghĩa của “công lý” (theo Rawls, chẳng hạn, thì “công lý là công bằng”), và ông đưa ra định nghĩa của ông. Bàng bạc trong những lý luận lôgic của Sen là một tấm lòng luôn hướng về những người bần cùng, cô thế... Cũng như lúc trước ông đã dùng chính lôgic của Arrow để bác bỏ “định lý Arrow”, trong cuốn sách mới ra này Sen dùng chính tiếp cận triết học của Rawls để vạch ra những hạn chế của quan niệm về công lý mà Rawls khẳng định.
Ở Sen, ta thấy một trí thức (và Sen là một trí thức trong nghĩa tốt đẹp và chính xác nhất của danh hiệu này) mà cuộc sống luôn hướng về hạnh phúc và khổ đau của đồng loại, ông rất gần gũi với những âu lo căn bản nhất của con người (có gì căn bản hơn nhu cầu cơm ăn, áo mặc?), và ông tiếp cận vấn đề với cường độ trí thức cực kỳ trung thực và siêu việt. Sen là một “trí thức công” (public intellectual) đúng nghĩa, với những suy nghĩ cặn kẽ về nhiều vấn đề, ở nhiều lãnh vực – từ kinh tế, xã hội, triết học, đến những tranh chấp chủng tộc, hạt nhân.
Nhiều người cho rằng Sen không phải là một nhà kinh tế “thường”, theo nghĩa là ông không tham gia vào những tranh luận về chính sách kinh tế, thậm chí khó nói là ông thuộc trường phái “tiền tệ” hoặc môn đồ của Keynes (tôi đoán là Keynes). Nhiều người khác chỉ trích Sen là ông ôm đồm quá nhiều: từ nạn đói đến nạn phụ nữ chết sớm, đến vấn đề đã đa văn hoá và sự lan tràn vũ khí hạt nhân. Những chỉ trích này cũng có phần đúng. Nhưng kinh tế học cần những người như Amartya Sen. Dù, hiển nhiên, ông không phải là nhà kinh tế duy nhất quan tâm đến số phận những người nghèo, cô thế... nhưng ông hơn hẵn những người khác ở chiều sâu suy nghĩ.
Robert Solow, một “trưởng lão” trong làng kinh tế đương đại (và cũng đã được Nobel) đã gọi Amartya Sen là “lương tâm của kinh tế”. Đó không chỉ là vinh dự cho Sen nhưng có lẽ, hơn nữa, là vinh dự cho mọi nhà kinh tế.
Trần Hữu Dũng
17/12/2011
Bản trên báo: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/68682/Amartya-Sen--Luong-tam-cua-kinh-te.html
tranhuuuy | 31 December, 2011 22:31
Cuối năm các báo, web, blog hay bàn những gì ấn tượng nhất trong năm. Qua những phát biểu này mình cũng rút tỉa những được điều tâm đắc từ các ấn tượng đó. Có thể gọi là “ấn tượng từ những ấn tượng nhất”
Hình ảnh ấn tượng nhất của Thế giới: Thế giới năm 2011 xảy ra quá nhiều chuyện mà lịch sử chưa từng xảy ra như hàng loạt nhà độc tài bị lật đổ ở châu Phi, khủng hoảng nợ công châu Âu, chuyện sóng thần ở Nhật Bản, lũ bùn đỏ ở Hungary, tàu cao tốc đâm nhau ở Trung Quốc, phong trào chiếm phố Wall ở Mỹ …nhưng hình ảnh mình cảm thấy bi hài nhất là hàng ngàn người dân Bắc Triều Tiên khóc khi chủ tịch Kim Chung In chết. Các chị em phụ nữ Việt Nam thường hay khóc khi xem phim và khen diễn viên Hàn Quốc đóng hay nhưng nếu xem cảnh khóc chủ tịch In chết, chắc chắn sẽ khen người Bắc Triều Tiên diễn còn hay hơn nhiều.
Về đất nước, phát ngôn ấn tượng nhất là của Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, Bộ Công An “Việt Nam không phải nước đang phát triển, đã phát triển hay chậm phát triển; mà là khó phát triển” (Tuần Việt Nam, ngày 27/10/2011). Nếu biết hiện trạng bệnh thế nào thì sẽ chắc chắn sẽ có giải pháp để khắc phục, còn không biết bệnh chỗ nào, rờ vào đâu cũng thấy đau thì đúng là khó chữa thật.
Về triết lý hành động: Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Kim Eng - Lê Minh Tâm tâm sự trên Cafebiz: “Muốn đi xa thì phải đi chậm”. Thông thường ai cũng nghĩ muốn đi xa thì phải đi nhanh, nhưng đi nhanh mà không có đường lối rõ ràng, vừa đi vừa dò, không có những giải pháp phòng ngừa rủi ro, thì thế nào cũng bị sập bẩy. Cùng quan điểm này ông Lương Văn Tự, nguyên trưởng đoàn đám phán WTO của Việt Nam, đã chia sẻ về hành động của doanh nghiệp để tồn tại trong khủng hoảng “Càng làm nhiều càng nhanh chết”.
Quan niệm về từ thiện, TS Alan Phan nói: “Tôi luôn luôn giữ kín mọi hoạt động của mình trên lĩnh vực này; vì nói ra sẽ làm mất đi ý nghĩa của hành động. Nhưng tôi vẫn thường nói với các hậu sinh, “Chúng ta làm việc để sinh tồn, và chúng ta trao tặng để tạo dựng đời mình (We work to make a living, and we give to make a life)”. Thật ý vị với quan niệm này, chúng ta cho đi là để tạo dựng đời mình, để được sống thanh thản và cảm thấy đời có ý nghĩa hơn…
Chiều 31/12/2011.
tranhuuuy | 28 December, 2011 15:22
Trong bối cảnh bức tranh kinh tế của năm 2012 được các chuyên gia kinh tế phác thảo không mấy sáng sủa, TS Alan Phan, Chủ tịch Quỹ Đầu tư Viasa lại khẳng định: Đây là cơ hội tuyệt vời để kiếm tiền!
Trong thực tế kinh doanh, đồng tiền luôn thay đổi và dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác và khủng hoảng còn là cơ hội để người ta kiếm tiền. Mỗi ngày có tới 400-500 tỷ USD luân chuyển trên thị trường thế giới. Thị trường không thiếu vốn, Việt Nam cũng không thiếu vốn…
Cách thức lý luận mà TS Alan Phan đưa ra khiến người nghe liên tưởng đến lưu ý của giáo sư John Snown - nguyên Bộ trưởng Bộ Ngân khố Hoa Kỳ, trong lần diễn thuyết tại Việt Nam hồi tháng 11: "Đồng tiền chỉ đến với nơi nào được đối xử tốt". Và lẽ dĩ nhiên, muốn đồng tiền đến với doanh nghiệp mình, người chủ doanh nghiệp phải biết cách đối xử với đồng tiền khôn ngoan ấy!
Bạc tóc vì không biết rót vốn vào đâu
Có một người bạn đang chịu sức ép về việc phải giải ngân 100 triệu USD vào các doanh nghiệp Việt Nam đã tìm đến TS Alan Phan để nhờ cung cấp thông tin. Sau 9 tháng gặp lại, TS Alan Phan vô cùng ngạc nhiên khi thấy người bạn của mình đã bạc cả tóc, hỏi ra mới biết, ông không thể tìm được đối tác nào hội đủ các điều kiện để rót vốn. Nhiệm vụ bất khả thi khiến ông này có nguy cơ bị sa thải. Câu chuyện được TS Alan Phan dẫn ra khi vấn đề thiếu vốn triền miên của các doanh nghiệp Việt Nam được xới lên. "Chúng ta không thiếu vốn mà chỉ thiếu những ý tưởng kinh doanh, những sản phẩm đặc thù và thiếu sự minh bạch trong quản trị doanh nghiệp", TS Alan Phan nhấn mạnh. Đồng quan điểm này, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, một người cũng có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại thị trường Mỹ như ông Alan Phan cho rằng, rất ít doanh nghiệp Việt Nam đảm bảo được yếu tố công khai, minh bạch trong hoạt động, vậy nên rất khó để họ có thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp một cách hiệu quả. "Nhiều chủ doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu công bố thông tin không chính xác", ông Thành nói.
Nhìn ở góc độ khác, chưa bao giờ kết quả kinh doanh của giới doanh nghiệp Việt Nam ảm đạm như hiện nay. Đặc biệt, tỷ lệ doanh nghiệp thực sự phải tạm dừng hoạt động hay giải thể đang ngày một gia tăng, dẫu chưa cơ quan nào đưa ra được một con số thống kê đáng tin cậy. Tình hình sẽ còn xấu hơn nếu kinh tế khu vực và thế giới xấu đi trong năm 2012 và ngân hàng không mở hầu bao cho số đông doanh nghiệp. Vậy bài toán vốn này cần phải giải như thế nào?
Gõ cửa ngân hàng
Đã từng là Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rồi Chủ tịch Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, bà Dương Thu Hương hẳn không xa lạ với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Bà dẫn ra con số: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên vốn vay của doanh nghiệp Việt Nam hiện ở mức 1/20, cá biệt còn lên đến 1/30. "Điều này cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam hiện lệ thuộc rất nhiều vào vốn vay bên ngoài, chủ yếu là từ ngân hàng", bà Hương nhận xét. Theo những thông điệp chính sách phát đi từ Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bà Hương cho rằng, có thể tin tưởng doanh nghiệp sẽ có cơ hội vay được vốn với điều kiện tốt hơn trong năm 2012. Tuy nhiên, ông Phạm Quang Dũng, Phó TGĐ ngân hàng Vietcombank, lại nhìn nhận một cách thực tế hơn khi khẳng định: điều đó chỉ đúng với những doanh nghiệp mạnh khỏe, khách hàng lâu năm của ngân hàng! Điều này có thể hiểu được trong bối cảnh hiện nay, theo cách diễn đạt của TS Lê Xuân Nghĩa là "đến các ngân hàng lớn cũng còn run. Bản thân các ngân hàng cũng đang phải lo toan với những vấn đề của chính mình thì việc tăng trưởng tín dụng đối với khối sản xuất hay phi sản xuất cũng đều phải dựa vào những cân nhắc rất thận trọng và từ cả những chỉ dấu chính sách".
Tuy có ý kiến phản biện lại nhận xét của ông Bùi Kiến Thành về việc các ngân hàng thương mại hiện nay chỉ cho vay dựa vào tài sản thế chấp, bà Dương Thu Hương cũng phải thừa nhận một thực tế rằng: việc cho vay theo dòng tiền, cho vay theo dự án đã được các ngân hàng triển khai lâu nay, nhưng chưa nhiều và chưa hiệu quả. Trong khi trò chuyện riêng với Doanh Nhân, bà cho rằng, với cơ chế hiện nay, các ngân hàng chưa đủ năng lực để thẩm định dự án hay nhìn nhận dài hơn, xa hơn cho một vòng đời dự án cũng như kiểm soát cho vay theo dự án để quyết định cho vay. Yếu tố cốt lõi vẫn là sự thiếu minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp tạo nên mối e ngại lớn của các ngân hàng, bà Hương nói. Như vậy, quả bóng một lần nữa lại được chuyển sang sân của doanh nghiệp, bởi xét đến cùng, để có thể vay được vốn đã đến lúc doanh nghiệp không nên chỉ nghĩ đến việc đem tài sản ra thế chấp mà cần phải thay đổi cung cách tiếp cận nguồn vốn đầu tư.
Kênh nào ra vốn đầu tư?
Thông thường các doanh nghiệp tìm vốn ở các nguồn quen thuộc như các cổ đông hiện hữu, bạn bè, người thân trong gia đình, các đối tác hiện có, ngân hàng và một số nguồn không chính thống khác. Một mặt chỉ ra thói quen huy động vốn này của doanh nghiệp Việt Nam, mặt khác TS Alan Phan đưa ra khuyến nghị về vai trò của các nhà đầu tư trong việc tìm kiếm vốn của các doanh nghiệp. Đó là các quỹ đầu tư, đối tác chiến lược, các nhà đầu tư cá nhân, các khách hàng, nhà cung cấp… Trong đó, theo ông Alan Phan, các doanh nghiệp nên chú ý đến việc bắt tay với các công ty bảo hiểm, các công ty cho thuê tài sản và thậm chí cả hình thức thuê ngoài (outsourcing)…
Với những doanh nghiệp đủ sức và đủ minh bạch, lời khuyên của ông chính là việc niêm yết trên sàn chứng khoán Mỹ - một thị trường tài chính lớn nhất thế giới với đủ mọi tầm cỡ của doanh nghiệp. Có thể lời khuyên của ông Alan Phan chưa thật thích hợp với đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Nhưng việc khuyến nghị nên nghĩ xa hơn, bớt lệ thuộc vào ngân hàng, tự nghĩ cách tìm kiếm nguồn vốn ở những thị trường bên ngoài như: Đông Nam Á, Trung Quốc, Mỹ hay châu Âu là điều mà doanh nghiệp cũng nên cân nhắc khi chuẩn bị đón năm 2012 – một năm mà kịch bản kinh tế được dự báo là rất xấu. Muốn vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần vươn đến những chuẩn mực hoạt động cao hơn.
Ông Thomas LanYi, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn Mekong Capital chia sẻ kinh nghiệm, trước khi quyết định đầu tư, họ xem xét rất kỹ về doanh nghiệp, không chỉ nhìn doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại mà nhìn xa hơn trong chiến lược trung và dài hạn của chính doanh nghiệp đó. Thậm chí, mối quan tâm có thể rất cụ thể như: văn hóa doanh nghiệp; cơ chế đưa ra quyết định của doanh nghiệp; doanh nghiệp có tham vọng tham gia các "cuộc chơi" lớn không… Nếu là một doanh nghiệp qui mô gia đình khi phát triển thì năng lực quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp có theo kịp yêu cầu không; cơ chế chia sẻ thành công với các đối tác thế nào?… Điều mà ông Thomas băn khoăn là các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp khó khăn trong việc thuê CEO chất lượng cao, do vậy họ sẽ gặp khó khăn trong việc nâng cao chất lượng và chuẩn mực hoạt động. Theo ý kiến của ông Bùi Kiến Thành, để gọi được vốn các doanh nghiệp cần gia tăng kỹ năng đi vay theo dự án, phải trả lời được câu hỏi về dòng tiền của dự án.
Tiếp tục khuyến nghị đối với doanh nghiệp, TS Alan Phan đưa ra 5 yếu tố cần thiết khi vay vốn: Sáng tạo - kiên nhẫn - cách thức bán hàng - hiểu mình (lợi thế cạnh tranh, ban quản trị) và hiểu nhu cầu nhà đầu tư. Và trước mỗi cuộc tiếp xúc vay vốn, doanh nghiệp cần đưa ra được danh sách các nguồn vốn tiềm năng; làm một phân tích SWOT; kế hoạch kinh doanh mới; báo cáo và dự phòng tài chính cũng như phải đưa ra được đề nghị về mức hoàn trả (ROI)… Chỉ khi chuẩn bị được kỹ càng như vậy, câu chuyện vay vốn mới không trở thành nỗi ám ảnh của doanh nghiệp. "Nói như Tôn Tử, kết quả của trận chiến được quyết định trước khi phát súng đầu tiên khai hỏa", TS Alan Phan kết luận một cách hình ảnh và cũng đầy ẩn ý.
| Làm sao để vốn vào được doanh nghiệp mà ngân hàng không đổ vỡ? Chuyên gia ngân hàng Dương Thu Hương Trong bối cảnh mức lãi suất cho vay đứng ở mức trên 20%/năm, những doanh nghiệp khởi nghiệp và những doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp rất nhiều khó khăn về vốn. Muốn giải quyết được vấn đề này cần bàn tay của Nhà nước. Lấy ví dụ ở Đài Loan, người ta lập ra một quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ - động lực tăng trưởng kinh tế chính của vùng lãnh thổ này. Ở Việt Nam, mô hình một quỹ tín dụng như vậy cũng đã được lập ra, nhưng chính hình thức cho vay dựa vào nguồn vốn từ ngân sách nhà nước kết hợp với vốn của ngân hàng đã khiến hoạt động của quỹ không hiệu quả. Việc đặt quỹ bảo lãnh tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam tạo nên sự rắc rối và có phần dồn trách nhiệm cho ngân hàng thực hiện. Ngân hàng Phát triển cho vay ra, nhưng không theo đến cùng dự án, rồi những khó khăn trong quá trình thẩm định dự án khiến cho việc vay vốn từ quỹ này nằm ngoài tầm với của đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Để giải quyết bài toán vốn, ngoài nỗ lực của ngân hàng, của doanh nghiệp, cần đến bàn tay của Nhà nước. Chẳng hạn, cần hoàn thiện hơn nữa mô hình quỹ bảo lãnh và quỹ đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng Nhà nước cũng cần chỉ đạo các ngân hàng thương mại lập ra hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về các doanh nghiệp khách hàng, kết nối và theo dõi khách hàng theo quá trình một cách đầy đủ nhất. Có như vậy thì tài sản thế chấp mới không trở thành yêu cầu số 1 trong quá trình vay vốn - điều đang làm khó không ít doanh nghiệp. Đằng sau số phận của mỗi doanh nghiệp là vấn đề an sinh xã hội. Nhiệm vụ chính trị của ngân hàng là phải hỗ trợ doanh nghiệp. Ngân hàng phải tương sinh cùng doanh nghiệp. Đây là thời điểm để cả doanh nghiệp và ngân hàng đổi mới cung cách vay và cho vay vốn. |
Theo Thương Vũ
Minh họa: Hà Phạm
Diễn đàn doanh nghiệp
tranhuuuy | 28 December, 2011 15:20
Entry có trao đổi chút về học thuật credit score cho những ai muốn mua xe, mua nhà bên Mỹ và cũng là bài học trong vay mượn quốc tế.
Trong bối cảnh Vinashin đang bị kiện ra tòa án tại London, thì không nên hiểu, chỉ có chuyện trả nợ, chịu phạt tiền, mà còn liên quan đến credit score của quốc gia.
Credit Score – Chỉ số tín nhiệm về nợ
Hồi mới sang Mỹ, mình dùng toàn tiền mặt cho chi tiêu. Mang theo credit card ở Hà Nội, tiêu gì, Vietcombank trừ luôn vào lương, chả thèm dùng của bọn tư bản.
Ở lâu lâu rồi tính chuyện đến ngân hàng vay tiền mua nhà. Tay officer (cán bộ ngân hàng) xem số an sinh xã hội của mình rồi vào máy gõ lách tách một lúc.
Hắn lầm bầm, theo báo cáo thì credit score của anh quá xấu, nếu vay thì lãi xuất rất cao.
Mình hỏi tại sao thì y giải thích, đó là vì anh không vay tiền, không trả nợ, credit score không tính được.
Mình cãi, cả đời tôi không thèm vay của nước Mỹ một xu, một công dân ngoan ngoãn, trả thuê nhà, tiền điện, tiền nước hay mua gì cũng bằng tiền mặt, nợ nần gì đám cao bồi các anh. Lắm chuyện.
Tay officer bình tĩnh, ở nước Mỹ chúng tôi, ai cũng vay tiền, ai cũng phải trả nợ cái gì đó. Credit card, tiền điện thoại, nước, nhà cửa, xe trả góp… Trả đúng hạn thì điểm credit score rất tốt. Đó là đạo đức của người Mỹ đó ông à.
Hắn khuyên, anh nên mua một cái ô tô, dùng credit card, rồi trả đúng hạn. Một năm sau tới đây, ta hãy bàn chuyện mua nhà.
Lãi ngân hàng cho mua nhà hiện là 5,90%/năm nếu với credit score hiện thời. Nhưng sau một năm, anh chứng minh là một công dân ngoan ngoãn, điểm tốt (càng cao càng tốt – credit score khoảng 720-850 là loại tốt, tùy theo một trong 3 hãng xét credit: Equifax, TransUnion and Experian và FICO) thì lãi suất có thể là 4%/năm.
Ở xứ mình, lý lịch được cấp bởi ông UB xã. Bố ấy thích thì phê hay, lúc lão ấy bị người tình bỏ, mình bị vạ lây. Nghĩa là tùy thuộc vào tâm sinh lý của lão chính quyền đó.
Credit score của Mỹ dựa trên cách công dân vay mượn, và trả đúng hạn hay không. Anh đi chơi gái, ngủ với 1000 cô cũng chẳng sao, miễn là trả tiền gốc lãi vay của ngân hàng, hóa đơn điện, nước, nhà đầy đủ, thế là có tín nhiệm cao.
Số an sinh xã hội (giống số CMT của ta) sẽ ghi lại lịch sử trả tiền và credit score từ đó mà ra. Bọn tư bản đánh giá đạo đức con người thông qua các con số vô hồn, rất thực dụng.
Credit score cũng áp dụng cho các quốc gia đi vay nợ và thông tin này được các quốc gia trao đổi với nhau. Điểm xấu thì vay tiền sau này khó. Chả ai muốn cho thằng cha vay tiền mà không trả được. Họ phạt bằng cách không cho vay, hoặc có cho vay thì lãi suất rất cao, kèm những điều kiện khắt khe.
Bài học cho Vinashin và vụ nợ 600 triệu đô la
Tin cho hay, Quỹ đầu tư Elliott Advisers LP có trụ sở tại Hoa Kỳ vừa khởi kiện công ty đóng tầu quốc doanh Vinashin của Việt Nam tại toà án Anh Quốc.
Đơn kiện liên quan tới khoản 600 triệu đôla Vinashin vay nước ngoài qua trái phiếu, với khoản trả lần đầu 60 triệu đôla đã đáo hạn hồi tháng 12 năm ngoái mà Vinashin chưa thanh toán.
Bên phương Tây, nợ tiền không trả đúng hạn, phải mang ra tòa là có chuyện lớn rồi. Số tiền 600 triệu đô la cũng không nhỏ. Tư bản thực dụng không có tình cảm gì hết.
Vinashin đang ở thế yếu nên chuyện thua trước tòa có thể đoán trước.
Tầu mục nát trong nước sơn mới.
Không trả tiền là tịch biên tài sản. Nếu tầm quốc gia thì tòa ra lệnh bắt cả máy bay hành khách, tầu thủy, phong tỏa tài khoản ở nước ngoài để trừ nợ. Mọi khoản chi phí trong tòa do mình chịu và phạt thì gấp nhiều lần.
Mới đây báo chí trong nước cho hay, ông Võ Trí Thành, phó viện trưởng viện Quản lý kinh tế Trung ương, cảnh báo điều ông gọi là “sức lan tỏa của vụ kiện sẽ rất lớn”.
Nếu chủ nợ thắng thì chỉ số tín nhiệm về nợ (credit score) của Chính phủ Việt Nam xấu đi rất nhiều, khi vay món khác sẽ bị lãi suất cao.
Ông Thành còn khuyên “Dù đây là khoản tiền không có bảo lãnh của Chính phủ, nghĩa là Chính phủ không phải trả thay, nhưng Chính phủ phải bằng cách này hay cách khác, ví dụ cho Vinashin tạm ứng (vay) để trả nợ. Song, khi đó, Chính phủ phải công khai, minh bạch cho Quốc hội và nhân dân được biết”.
Tuy nhiên, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh lại cho rằng “Vinashin tự vay thì tập đoàn sẽ phải tự trả. Chính phủ không trả nợ thay cho Vinashin”.
Ông Võ Trí Thành hoàn toàn có lý khi nói như trên. Đừng đùa với credit score khi vay mượn quốc tế.
Luật chơi trong thế giới đã toàn cầu hóa rất chặt chẽ. Vay dễ nhưng trả mới khó, nhất là trả đúng hạn.
Mỗi khi ký bút vay 1$ của nước ngoài, phải nhớ kinh doanh sao cho đủ để trả gốc 1$ + phần lãi của người cho vay và cả phần lời cho mình. Nếu không tính được bài toán vỡ lòng này thì đừng bàn đến những “quả đấm thép”.
Nếu thua tại tòa ở London thì Vinashin sẽ nhận một “quả đấm thép” của người khởi kiện, “người hùng” này sẽ gục hẳn.
Khi đó sẽ thấy, những con tầu do Vinashin mua về không che được sự mục nát và hoen rỉ bên trong, dù được sơn mới hay khỏa lấp bằng những vĩ từ.
HM. 14-12-2011
tranhuuuy | 19 December, 2011 16:51
Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế.
Nếu như các mô hình kinh tế về tích tụ các yếu tố sản xuất thay đổi công nghệ nội sinh chỉ cung cấp những lời giải thích gần đúng cho tăng trưởng kinh tế tương đối, thì những mô hình nào đưa ra lời giải thích đáng tin cậy hơn cả? Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế. Khi nhấn mạnh tầm quan trọng của lý thuyết thể chế và các thể chế kinh tế, để có các đánh giá khách quan hơn, cần xem xét tới yếu tố địa lý, văn hoá, các thành tố dẫn đến việc hình thành các động cơ kinh tế và một số cơ may có được từ một số xã hội.
Thể chế kinh tế
Có giả thiết cho rằng sự khác biệt về thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản của các mẫu hình khác nhau trong tăng trưởng kinh tế. Cốt lõi của giả thiết này dựa trên luận điểm cách thức con người tổ chức xã hội của họ quyết định xã hội đó có thịnh vượng hay không. Một cách tổ chức xã hội khuyến khích mọi người đổi mới, chấp nhận rủi ro, tiết kiệm cho tương lai, học tập, giải quyết những vấn đề chung và cung cấp các hàng hoá công cộng… là một xã hội đạt tới mức thu nhập cao hơn. Ngược lại với cách tổ chức này thì xã hội đó sẽ rơi vào tình cảnh nghèo đói.
Ý tưởng về sự phồn vinh của một xã hội phụ thuộc vào các thể chế kinh tế, ít nhất đã được Adam Smith đề cập trong các cuộc thảo luận về chủ nghĩa trọng thương và vai trò của thị trường, và nổi bật hơn với luận điểm xã hội thành công về kinh tế khi họ có được thể chế kinh tế tốt. Chúng ta có thể cho rằng, thể chế kinh tế tốt bao gồm một số các sự vật có liên quan đến nhau. Đó là, quyền sở hữu phải được thực thi trên diện rộng trong một xã hội, để cho tất cả các cá nhân có cơ hội đầu tư, đổi mới công nghệ và các đổi mới đó tham gia vào các hoạt động kinh tế, có một mức độ hình đẳng về xã hội (kể cả bình đẳng trước pháp luật), ngăn chặn người có quyền lực thâu tóm các cơ hội đầu tư.
Một loại hình khác của thể chế kinh tế là thị trường. Các quan điểm truyền thống của các nhà sử học về tăng trưởng kinh tế nhấn mạnh tới sự lan toả của thị trường, đại diện tiêu biểu của những quan điểm này là Pirenne (1937). Các mô hình về bẫy nghèo đói của Acemoglu (1995,1997), của Murphy và Shleifer (1989), dựa trên ý tưởng cho rằng thị trường không hoàn hảo có thể dẫn đến sự tồn tại của điểm cân bằng tối ưu Pareto. Kết quả là một quốc gia có thể gặp khó khăn trong một trạng thái cân bằng Pareto kém, gắn liền với nghèo đói. Nhưng để nhận ra bẫy nghèo đói, đòi hỏi phải có sự hợp tác các hoạt động mà thị trường không cung cấp. Các nghiên cứu được khởi xứng bởi Banerjee và Newman (1993), Glor và Zeira (1993) dựa trên ý tưởng thị trường không hoàn hảo, vấn đề phân phối của cải cho những người có cơ hội đầu tư, cùng với việc phân phối thu nhập sai lệch thì xã hội đó sẽ bị mắc kẹt trong nghèo đói, nói khác đi là rơi vào bẫy nghèo đói.
Các lý thuyết này đưa ra một số mô hình thú vị về động cơ mong muốn phụ thuộc vào hành vi của một nhóm người khác hoặc phân phối của cải cho một nhóm người nào đó khi mà thị trường không hoàn hảo. Tuy nhiên, cấu trúc của thị trường là nội sinh, và được xác định bởi quyền sở hữu. Một khi cá nhân có quyền sở hữu an toàn và bình đẳng trước các cơ hội, động cơ sẽ tồn tại để tạo ra và cải thiện thị trường (mặc dù rất khó đạt tới một thị trường hoàn hảo). Vì vậy, sự khác biệt về thị trường là một kết quả của các hệ thống khác nhau về quyền sở hữu và thể chế chính trị tạo nên sự khác biệt giữa các nước về hoạt động kinh tế. Như vậy, vấn đề trọng tâm của thể chế kinh tế là những nội dung có liên quan tới việc thực thi các quyền sở hữu trên diện rộng trong các nhóm xã hội, tạo ra sự khác nhau về thu nhập.
Yếu tố địa lý
Trong khi các lý thuyết thể chế nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố do con người tạo ra, để hình thành các động cơ thì một lý thuyết khác lại tập trung vào vai trò tự nhiên có nghĩa là môi trường vật chất và vị trí địa lý. Trong bối cảnh hiểu biết về sự khác biệt giữa các quốc gia trong hoạt động kinh tế, cách tiếp cận này nhấn mạnh tới sự khác biệt địa lý, khí hậu, sinh thái quyết định các sở thích và cơ hội của từng tác nhân kinh tế ở các xã hội khác nhau. Phương pháp tiếp nhận này gọi là giả thuyết địa lý. Hiện tại, có ít nhất ba phiên bản về giả thuyết địa lý, mỗi giả thiết nhấn mạnh một cơ chế khác nhau của yếu tố địa lý ảnh hưởng thế nào tới sự thịnh vượng của một quốc gia.
Thứ nhất, khí hậu có thể là một yếu tố quan trọng quyết định tới nỗ lực làm việc, động cơ và năng suất. Nhiệt độ quá cao, làm cho cơ thể giảm sức mạnh. Vì vậy, sự kiệt sức sẽ làm giảm tinh thần hăng say, giảm sức sáng tạo, thậm chí làm cho con người không còn rộng lượng với nhau. Thực tế cho thấy con người ở xứ lạnh táo bạo và dũng mạnh hơn. Một trong những nhà kinh tế học nổi tiếng là Marshall đã cho rằng thể chất phụ thuộc phần nào vào chất lượng của chủng tộc, một phần khác quan trọng hơn là phụ thuộc vào khí hậu.
Thứ hai, địa lý là yếu tố quyết định cho công nghệ phát triển tại một xã hội, đặc biệt là trong nông nghiệp. Khi bắt đầu của thời kỳ tăng trưởng kinh tế hiện đại, công nghệ của các vùng ôn đới có năng suất cao hơn so với vùng nhiệt đới. Khẳng định của nhà kinh tế học Sachs (2001) cũng giải thích sự chinh phục ồ ạt của người Châu Âu vào Châu Mỹ là do sự khác biệt về công nghệ. Châu Âu truyền thống là nơi tập trung dân cư đông đúc, công nghệ trong nông nghiệp nhằm vào mục tiêu cung cấp thực phẩm. Tiến bộ công nghệ đã giúp cho Châu Âu khai phá các vùng đất mới tại các quốc gia Bắc và Nam Mỹ trong các thế kỷ trước.
Thứ ba, các giả thuyết địa lý đặc biệt phổ biến trong thập kỷ qua, liên quan tới gánh nặng bệnh tật. Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Châu Phi cận Sahara, HIV đang làm giảm tốc độ tăng trưởng của Châu Phi.
Yếu tố văn hoá
Nghiên cứu nổi bật nhất về quan hệ giữa văn hoá và phát triển là của Weber (1930), ông lập luận rằng, nguồn gốc của công nghiệp hoá ở Tây Âu, xuất phát từ cải cách đạo Tin Lành. Theo quan điểm của ông, nhóm niềm tin về thế giới trong đạo Tin Lành, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đạo Tin Lành, nhấn mạnh tới ý tưởng của lý thuyết định mệnh ở chỗ, một số cá nhân được Chúa chọn và được ưu ái, trong khi những người khác thì không, và một phần của nhân loại được cứu rỗi, còn phần khác thì bị nguyền rủa. Những ai được chọn, còn ai thì không? Weber đã giải thích điều này là do thuyết định mệnh. Đạo Tin Lành dẫn đến một tập hợp các niềm tin, trong đó nhấn mạnh tới thành công về kinh tế là nơi phù hợp với sự lựa chọn của Chúa. Nếu so sánh với Đạo Tin Lành thì Công giáo và các tôn giáo khác thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển yếu hơn. Đạo Tin Lành khoan dung hơn với sự đổi mới.
Gần đây Landes (1998), cũng cho rằng nguồn gốc của sự thống trị kinh tế của phương Tây là do có một tập hợp tín ngưỡng về thế giới, và họ biết cách chuyển các niềm tin đó thành nỗ lực của con người. Ý tưởng về văn hoá ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế bị giới hạn bởi tôn giáo. Thường thì các nghiên cứu độc lập cố gắng giải thích sự phát triển là do các đặc điểm văn hoá ban đầu của một quốc gia, chủng tộc. Thí dụ, Mỹ Latinh nghèo bởi vì áp dụng di sản của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, trong khi Bắc Mỹ thịnh vượng là do áp dụng di sản Anglo-Saxon của nó. Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu khác về nhân chủng học lập luận rằng, các xã hội có thể trở nên năng động khác thường với hoàn cảnh là do họ có một hệ thống niềm tin và cách thức hoạt động để phát huy thành công, tiến tới thịnh vượng. Ngược lại, các xã hội không thích nghi với hoàn cảnh thì rơi vào nghèo đói. Thí dụ, người nghèo ở vùng miền Nam nước Italia do chịu ảnh hưởng niềm tin vào các thành viên gia đình và từ chối hợp tác với người khác. Những xã hội như thế là thiếu hụt vốn xã hội. Mối tương quan giữa xã hội và tăng trưởng kinh tế là chặt chẽ, cùng chiều. Mức độ chặt chẽ khác nhau tạo ra các tỷ lệ tăng trưởng khác nhau.
Thể chế chính trị dân chủ và tăng trưởng
Quan điểm trung tâm cho rằng dân chủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên các thể chế chính trị dân chủ, và các thể chế đó vận hành có hiệu quả dưới chế độ dân chủ. Thể chế này bao gồm chế độ pháp quyền, bảo vệ quyền sở hữu, tự do cá nhân nhằm phát huy sáng tạo năng lực hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ... Trong công trình nghiên cứu của Iqbal, Jong-Ilyou (2001), tiến hành khảo sát 115 quốc gia trong thời kỳ 1960 – 1980 đã cho thấy các nước có mức độ chính trị dân chủ, mở cửa cao, đạt tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2,5 – 3%, so với mức tăng trưởng 1,4% của những nước có nền kinh tế thiếu dân chủ và đóng cửa với bên ngoài.
Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa dân chủ và tăng trưởng kinh tế đã được một số tác giả tập trung nghiên cứu, dựa vào các yếu tố về pháp quyền, chế độ chính trị tác động tích cực đến mức nào tới tăng trưởng. Đại diện tiêu biểu nhất lý giải cho mối quan hệ này là North (1990). Theo ông thì pháp quyền được hiểu là quyền lực tối cao của định chế pháp luật, được củng cố nhờ bộ máy tư pháp độc lập thường là tam quyền phân lập, và thiết chế quan trọng để bảo đảm các quyền sở hữu. North cho rằng, các thiết chế dân chủ phải được xem là một phần của cơ sở chính trị pháp quyền. Hoạt động của thể chế dân chủ sẽ bảo đảm cho cạnh tranh chính trị công bằng hơn và không cho phép thế lực chính trị nào giành được quyền lực hơn để áp đảo thế lực khác. Nghiên cứu của ông đã đi đến kết luận rằng, thứ nhất thể chế dân chủ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một chính quyền tốt, hạn chế tham nhũng. Thứ hai, những nước có thể chế chính trị dân chủ và quyền tự do dân sự có lợi cho phát triển kinh tế. Thứ ba, những thành quả kinh tế đạt được to lớn hơn là do có môi trường kinh tế tự do hơn. Các kết luận này đã giúp cho các tổ chức quốc tế đưa ra một số giải pháp giúp đỡ cho các nước nghèo. Theo quan điểm của các tổ chức này, ưu tiên hàng đầu không phải là đẩy mạnh cải cách dân chủ ngay tức thì mà phải cải cách các thể chế hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Không nên hy vọng quá nhiều vào cải cách chính trị, do đó cải cách chính trị theo hướng dân chủ phải được tiến hành đồng thời với cải cách kinh tế. Nhiều nước quá vội vàng thực hiện cải cách chính trị đã thất bại trong cải cách kinh tế, thí dụ là nước Nga trong đầu thập niên 1990 dưới thời Eltsin làm tổng thống.
Các bằng chứng hiện tại
Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy giả thuyết thể chế kinh tế khác nhau tạo ra tỷ lệ tăng trưởng khác nhau và mức thu nhập bình quân đầu người khác nhau.
Dựa vào chuỗi số liệu trong thời kỳ 1985-1995 về thu nhập bình quân đầu người và số liệu về quyền sở hữu chống lại rủi ro do quốc hữu hoá hoặc xung công. Các nước có quyền sở hữu an toàn (nghĩa là có thể chế kinh tế tốt hơn) sẽ có thu nhập bình quân đầu người cao hơn. Thí dụ đầu tiên về những thử nghiệm rõ ràng nhất về thể chế là trường hợp Hàn Quốc (Nam Triều Tiên).
Trước khi đi theo hai con đường phát triển khác nhau thì Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều chung một nguồn gốc văn hoá. Bắc Triều Tiên được thiên nhiên ưu đãi hơn về tài nguyên có các mỏ than trữ lượng lớn, vonfram, kẽm, magie, sắt, đường, vàng, muối, thuỷ điện… Hàn Quốc cũng có một số khoáng sản. Nếu so sánh thì thấy rằng cả hai đều có cùng khả năng về vị trí địa lý và tiếp cận thị trường, chi phí vận tải, nhưng về bất cứ phương diện gì khác thì Bắc Triều Tiên vẫn vượt trội hơn. Thí dụ, đã đạt tới trình độ công nghiệp hoá tương đối khi các công ty Nhật Bản mở rộng hoạt động trên miền Băc. Điển hình là nhà máy thuỷ điện trên sông Yalu lớn thứ hai thế giới lúc đó do tập đoàn Suiho xây dựng. Nippon Chisso, một tổ hợp hoá chất lớn thứ hai thế giới cũng hoạt động trên Bắc Triều Tiên, ngoài ra Chongjin là một cảng lớn trên biển Nhật Bản cũng ở đất Bắc. Mặc dù, miền Bắc có một số tiềm năng, Maddison (2001), ước tính rằng tại thời điểm chia cắt thì hai miền đều có mức thu nhập tương đương nhau. Nhưng đến cuối thập niên 1960 Hàn Quốc trở thành nền kinh tế thần kỳ ở châu Á, một quốc gia nổi lên nhanh nhất về sự thịnh vượng tại Đông Á, trong khi đó Triều Tiên vẫn ở trong tình trạng kinh tế trì trệ. Năm 2000 thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 18.000USD, trong khi Triều Tiên là 1.000USD, tương đương với mức thu nhập của các quốc gia Châu Phi cận Xahara.Hàng triệu người thiếu đói lương thực.
Có thể lãnh đạo Kim Nhật Thành và các cộng sự của ông tin rằng các chính sách kinh tế theo mô hình Xô Viết tốt hơn cho đất nước. Tuy nhiên, những năm 1980 đã cho thấy các chính sách kinh tế của Chính phủ Triều Tiên là không hiệu quả. Tiếp tục đi theo đường lối kinh tế này, theo Acemoglu (2009) là do các nhà lãnh đạo muốn duy trì quyền lực và lợi ích riêng của mình mà quay lưng với lợi ích chung của đại đa số nhân dân. Khi mà thể chế kinh tế chỉ phục vụ cho một nhóm người có quyền lực thì hầu hết các quốc gia đi theo mô hình thể chế đó đều có kết cục thất bại.
Hàn Quốc đã áp dụng thể chế kinh tế thị trường tự do cùng với quá trình dân chủ hóa đã đầu tư cho giáo dục, khoa học công nghệ ở mức cao, hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, nhanh chóng trở thành quốc gia có nền công nghiệp hiện đại. Nhiều ngành công nghiệp như điện tử, ô tô, đóng tàu, hóa dầu…có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
Nền văn minh duy nhất đáng lẽ có thể vượt qua châu Âu là Trung Quốc. Bảng liệt kê danh sách các phát minh của Trung Quốc khá dài như la bàn, giấy và mực in, kỹ thuật in, thuốc nổ, dệt lụa, sành sứ, xe ngựa... Vào thế kỷ 12, công nghiệp dệt của Trung Quốc đã vượt xa nước Anh, luyện thép tại Trung Quốc đã biết sử dụng than đá. Nhưng lịch sử công nghiệp hoá của Trung Quốc là những bước lùi do không có công nghệ mới. Bởi vì, Trung Quốc thiếu vắng thị trường tự do, nhà nước luôn can thiệp vào thị trường và hoạt động kinh doanh của tư nhân. Thứ hai, nhà nước đã cấm đoán nhiều hoạt động kinh tế, thao túng giá cả, tham nhũng và không muốn để cho tư nhân làm giàu. Thứ ba, cung cách làm việc theo kiểu truyền thống, bóp chết sáng kiến, làm tăng các chi phí giao dịch, loại bỏ các tài năng về công nghệ và kinh doanh khỏi lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Không có một biểu hiện nào của đời sống công cộng thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước, thể chế chính trị mất dân chủ đã ngăn chặn quá trình phát triển của Trung Quốc.
----
PGS.TS.Trần Văn Tùng - Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
Nguồn:http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=4717
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Acemoglu, Daron (2009), Modern Economic Growth, Princeton Iniversity press.
2. Acemoglu, Daron (1995), Reward Structures and the Allocation of Talent, European Economic Review, 39, 17-33
3. Acemoglu, Daron (1997), Training and Innovation in an Inperfect Labor Market, Review of Economic Studies, 64, 445-464
4. Acemoglu, Daron, Simon Johnson and James A. Robinson (2002), Reversal of Fortune: Geography and Institutions in the Making of Modern World Incom Distribution, Quarterly of Journal of Economics 118, 1231-1294
5. Banerjee, Abihyit and Adrew F. Newman (1993), Ocupational choice and the Process of Development, Journal of Political Economy 101,274-198
6. Davis, Ralph (1973), The Rise of the Atlantic Economics, Cornell University Press
7. Galor Oded and Joseph Zeina (1993), Income Distribution and Macroeconomics, Review of Economic Studies 40, 35-52
8. Greif, Avner (1994), Cultural Beliefs and the Organization of Society, Journal of Political Economy 102, 912-950
9. Iqbal, Jong – Ilyou (2001), Democracy, Market Economics and Deverlopment: An Asian Perspctive, World Bank Press.
10. Knack, Steven and Philip Keefer (1997), Does Social capital have an Economic Impact? A cross – Country Investigation? Quarterly Journal of Economics 112, 1252-1288
11. Landes, Davids (1998), The wealth and The Poverty of Nations: Why some are so rich and some so poor, Norton & Co, New York
12. Maddision, A17. Maddision, Angus (2001), The world Economy: A Millenial perspective, OECD Paris
13. Murphy, Kevin J, Andrei Shleifer and Robert W. Vishny (1989) Industrialization and the Big Push, Journal of Political Economy, 97, 1003-1026
14. North, Douglas (1990), Institution, Instutution change, and Economic performance, Cambridge University Press
15. Pirenne, Henri (1937), Economic and Social History of Medieval Europe, New York, Brace & Co press
16. Trần Văn Trùng (2003), Quan hệ giữa thiết chế dân chủ với tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 11-2002
17. Tân tử Lăng (2007), Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, NXB Thư tác Phường Hồng Kông. Thông tấn xã Việt Nam xuất bản.
18. Weber, Max (1930), The protestal Ethic and the Spirit of Capitalism, Allen and Unwin, London.
tranhuuuy | 19 December, 2011 16:48
Anh hùng không phải là điều xấu, nhưng khi nó trở thành một nỗi ám ảnh thường trực, đã biến thành bệnh. Ví dụ: giữ gìn vệ sinh sạch sẽ phòng bệnh là thói quen tốt nhưng sợ vi trùng đến nổi bị ám ảnh như nhà kỹ thuật nổi tiếng Howard Hughes, là người bị bệnh hiểm nghèo, tiếng chuyên môn gọi là hypochondriac. Theo triệu chứng tỏ tường, Việt Nam chúng ta đã mắc “bệnh anh hùng”. Tiếng chuyên môn viết tắt là HOC, do ở tiếng Anh Heroic Obsessive Compulsive Disorder. Bệnh [H]OCD hay “bệnh anh hùng” đáng sợ hơn tất cả các chứng bệnh khác. Người bị các bệnh khác, bao giờ cũng mong được chữa khỏi, và chịu khó chữa trị. Trái lại người mắc bệnh anh hùng luôn tự hào về căn bệnh của mình, nên không thể chữa.
10 năm qua, tôi đã tới lui Singapore 4 lần nhưng các lần trước ít chú ý về tình hình tại đây. Một tháng ở đó, trong lần chót vừa rồi, gặp đúng dịp đảo quốc này kỷ niệm 40 năm ngày độc lập. Cũng trùng với dịp Việt Nam kỷ niệm 60 năm cuộc CMT8, khiến cho tôi có ý định nêu mấy nhận xét đáng chú ý giữa VN và Singapore.
Không phải chỉ riêng tôi muốn so sánh Singapore với nước mình. Trong thời gian bão Katrina tàn phá, nhà bình luận thời sự nổi tiếng của báo New York Times là Thomas Friedman cũng có mặt ở Singapore. Ông đã viết 2 bài trên trang bình luận New York Times và có những nhận xét về Singapore.“Nếu phải chọn bất cứ nơi nào ở Châu Á để trải qua 1 trận bão thì nơi đó nên là Singapore”
Friedman nói như vậy vì so sánh nỗ lực của Mỹ cấp cứu nạn nhân bão Katrina, Singapore mau mắn và hữu hiệu hơn nhiều khi cứu nạn nhân sóng thần ở Nam Dương vào cuối năm ngoái. Được như vậy vì trong việc chọn người vào các chức vụ then chốt ở Singapore, người ta không chọn theo tiêu chuẩn ‘bồ bịch”, như ông Bush chọn cựu giám đốc cơ quan cấp cứu liên bang (FEMA) Michael Brown hay “hồng hơn chuyên” theo kiểu VN. Singapore chọn người theo tiêu chuẩn khả năng và tránh tham nhũng, họ trả lương rất cao. Thủ tướng lãnh lương gần gấp 3 lần tổng thống Mỹ, mỗi năm $1.1 milion, nhân viên chính phủ và thẩm phán Tối Cao Pháp Viện gần 1 triệu.
Friedman nhận xét rằng vào buổi đầu, việc cai trị tốt rất quan trọng tại Singapore:”Vì Đảng cầm quyền phải giành giật tâm trí người dân với CS, những người được tiếng là không tham nhũng và ân cần – khiến nhà nước cũng như vậy, hay khá hơn”.
Thật may mắn cho Singapore, cả phía CS và không CS. Nhờ những người không CS nắm chính quyền mà Singapore được như ngày nay, và phe CS nhờ không cướp được chính quyền nên ngày nay vẫn còn được tiếng là thân dân và không tham nhũng.
Trong bài thứ 2 vào ngày 16/09, Friedman viết về tình hình giáo dục tại Singapore. Theo ông: “Chính quyền tại đây hiểu rằng, trong một thế giới phẳng (cả thế giới có thể thu gọn trong chiếc màn ảnh phẳng hay máy computer), công việc có thể chạy đi bất cứ nơi đâu thì khá hơn láng giềng chưa đủ. Cần phải đứng trên mọi người – kể cả chúng ta (Mỹ)”. Một hiệu trưởng cho biết:
“…Chúng tôi đã nới lỏng đôi chút cho phép học sinh nuôi dưỡng ý tưởng riêng của mình và kiến thức có thể tạo ra tại lớp học, chứ không phải chỉ đến từ thầy giáo.”
Vẫn theo Friedman, các học sinh lớp 4 và lớp 8 tại Singapore đã đạt được điểm cao nhất trong các kỳ thi quốc tế về toán và khoa học do Times tổ chức. Và sách Toán của Singapore đã được trường Mỹ, nơi con gái ông theo học, sử dụng tại Maryland. Trong khi Singapore cố gắng vượt Mỹ về giáo dục, VN vẫn bắt buộc học từ nhỏ đến lớn, muốn ra trường phải học những môn “thầy không muốn dạy và trò cũng không muốn học” . Ngoài ra VN còn phí phạm nhân tài như kiểu tuyển những sinh viên ưu tú, gửi đi nước XH anh em Cuba, chịu cảnh đói rách, học những môn không phải sở trường của họ, như kinh tế và computer (theo phóng sự của Báo Tiền Phong, Hà Nội).
Bây giờ xin trở lại âm vang 2 ngày lễ lớn của Singapore và VN. Cùng vào tháng 8, một bên kỷ niệm 40 năm ngày độc lập (09/08), một bên kỷ niệm 60 năm ngày cách mạng thành công (19/08). VN đi trước Singapore đúng 20 năm. Ngoài khác nhau về thời gian, còn khác nhau về người cầm quyền: VN có ĐCS với lãnh tụ HCM, Singapore có Đảng Nhân Dân Hành Động (PAP – People’s Action Party) với lãnh tụ Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu).
Dần số VN hiện có 85 triệu rưỡi người. Dân số Singapore chưa bằng số lẻ của VN, công dân thực thụ có 3 triệu rưỡi, cộng với 700,000 người ngoại quốc tới làm việc là 4.2 triệu. Nhưng Singapore đang sử dụng 3 triệu rưỡi máy điện thoại di động loại thông minh , hơn VN 1 triệu đơn vị. Số ngoại tệ và vàng dự trữ của Singapore vào năm ngoái là 112.8 tỉ Mỹ kim, trừ đi số nợ phải trả cho ngoại quốc là 19.4 tỉ, nếu chia đều cho dân, mỗi đầu người được khoảng 26,000 Mỹ kim. Trong khi ấy, số dự trữ của VN là 6.51 tỉ Mỹ kim, nếu trừ đi số nợ ngoại quốc là 16.55 tỉ, tính đổ đồng mỗi người dân phải mang nợ chừng hơn 100 Mỹ kim. Bao giờ dân VN đông bằng dân Trung Quốc, số nợ mỗi đầu người phải gánh giảm xuống còn khoảng 10 Mỹ kim.
Singapore chỉ cách VN hơn 1 giờ bay, tương đương khoảng cách từ Saigon đi Hà Nội. Người dân Singapore cũng thuộc giống da vàng, chắc không thể thông minh và chịu khó hơn dân Việt. Singapore lại bị những điều kiện kém VN như đất hẹp, không có tài nguyên thiên nhiên, phải dùng đến 4 ngôn ngữ chính. Nhưng tại sao độc lập sau VN 20 năm, ngày nay Singapore nằm trong số những quốc gia đứng đầu danh sách với các nước trên thế giới, trong khi VN nằm chung với những nước dưới cuối? Hình như câu trả lời chỉ vì 2 tiếng “ANH HÙNG” mà thôi.
Theo dõi VN kỷ niệm 60 năm CMT8, hai chữ “anh hùng” được nhắc tới nhiều hơn cả. Trước hết là diễn văn của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Quảng trường Ba Đình vào 02/09:”Nhìn lại những thành tựu vẻ vang của CMVN 60 năm qua, chúng ta vô cùng tự hào về dân tộc ta, một dân tộc anh hùng…truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng CM của nhân dân VN chính là những nhân tố cơ bản, cốt lõi làm nên sức mạnh vô địch của nhân dân VN trong thời đại mới.”
Rồi Chủ Tịch tiếp tục:”Vô cùng biết ơn và cảm tạ các bậc lão thành CM, các bà mẹ VN anh hùng” trước khi kết luận:”Dân tộc VN anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới…”
Báo Nhân Dân ngày 02/09, qua bài “Hà Nội, 60 năm nhìn lại” viết:”Trải qua 60 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, xây dựng CNXH, Hà Nội đã vươn lên mạnh mẽ, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh Hùng”….“Ghi nhận những thành tựu của Hà Nội trong hơn nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước đã trao tặng danh hiệu cao quý Thủ Đô Anh Hùng”.
Bài báo kết luận:”…với truyền thống lịch sử ngìn năm văn hiến, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô phấn đấu hơn nữa, đưa thành phố Hà Nội trở thành thành phố hiện đại, là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả nước, xứng đáng là thủ đô Anh hùng của đất nước VN Anh Hùng”
Sài Gòn đã mất địa vị thủ đô từ hơn 30 năm cũng được tặng danh hiệu anh hùng. Báo Tiền Phong Online ngày 02/09 tường thuật:”Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đã thay mặt Đảng, Chính phủ trao danh hiệu “Thành Phố Anh Hùng” cho lãnh đạo TP.HCM. Tổng Bí Thư nhắc đến truyền thống anh hùng của thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu”.
Theo dõi Singapore kỷ niệm 40 năm lập quốc, không nghe thấy ai nhắc tới 2 tiếng anh hùng. Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long – con Lý Quang Diệu), trong cuộc nói chuyện lâu 2 tiếng rưỡi, không có lần nào ông trực tiếp hay gián tiếp nhắc đến công nghiệp của bố Lý, cũng không hề đả động gần xa đến PAP, là Đảng cầm quyền từ năm 1959. Trong khi ấy, Chủ tịch Trần Đức Lương của VN trong bài diễn văn quốc khánh đã hãnh diện:”Tự hào về Chủ tịch HCM, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, tư tưởng và cuộc đời vẹn toàn của người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là kho tàng vô giá của dân tộc ta cho hôm nay và cho cả mai sau. Sự cộng hưởng vĩ đại của tư tưởng HCM, sứ mệnh lịch sử của ĐCS Việt Nam…”
Trong 2 cuối tuần lễ lạt ăn mừng độc lập, Singapore không nói tới thắng lợi, không nhắc tới kẻ thù. Thủ tướng Loong nhấn mạnh:”Được như ngày hôm nay là nhờ nhân dân chúng ta, tư tưởng chúng ta và hành động của chúng ta. Điều quan trọng hơn cả là chúng ta đã tạo được một tinh thần Singapore. Chúng ta can đảm nhưng nhân đạo, chúng ta tự tin nhưng không bao giờ tự kiêu”
Trong khi đọc diễn văn, có lúc thủ tướng Singapore đã rưng rưng nước mắt, khi nhắc lại 2 kỷ niệm khó quên xảy ra trong dịp lễ độc lập năm 1968. Trong khi ấy Singapore đang bơ vơ, không biết làm gì để sống. Nước Anh, tuy đã trả độc lập cho Singapore, vẫn còn giữ lại căn cứ quân sự Seletar Air Base, hẹn đến 1971 mới ra đi. Nhưng đầu năm 1968, Anh quyết định rút sớm, khiến khoảng 150 ngàn dân trực tiếp hay gián tiếp làm cho quân đội Anh bị mất việc. Thu nhập của những người này bằng 20% tổng số lợi tức quốc gia. Singapore họp nhau kỷ niệm lần thứ 3 ngày độc lập trong tình huống lo lắng như vậy. Sáng 09/08 trời quang mây tạnh, nhưng trước khi buổi lễ bắt đầu, mưa đổ tầm tã. Tất cả mọi người cố gắng giữ nguyên hàng ngũ. Đó là niềm hãnh diện và sự quyết tâm, cũng là nỗi xót xa của Singapore năm nay đã dành nhiều trang lớn, đăng bài vở, hình ảnh và phỏng vấn về lễ kỷ niệm mưa gió này.
Trong khi VN sợ thay đổi, Singapore chủ trương phải thay đổi hay là chết. Thủ tướng Loong khẳng định:”Vì thế giới sẽ thay đổi, nếu Singapore vẫn như hiện nay, chúng ta sẽ chết”
Trong khi VN cảnh giác về mọi nguy cơ, Singapore chủ trương xây dựng một “xã hội họp quần” (inclusive society), thúc đẩy sự tham gia của mọi người trong nước, và sẵn sàng học hỏi từ các nước, kể cả VN. Thủ tướng Loong kể chuyện:
“Tôi gặp một nhà vô địch Võ Nam Dương (silat), hỏi ông ta ai là đối thủ đáng sợ nhất tại cuộc tranh tài Châu Á SEA Games? Ông ấy nói Việt Nam. Tôi shock. Tôi nói VN biết gì về võ Nam Dương. Thái Cực Đạo, Kongfu hay mấy môn võ cổ truyền Đông Phương thì họa may, nhưng silat? Ông ấy nói đúng đấy. Từ con số không, họ bắt đầu học vào 1993, với hai huấn luyện viên Nam Dương. Mới đầu, không cơ sở, không vận động trường, không dụng cụ tối tân. Họ lấy mấy tấm kim khí, buộc vào nhau thành khung, bọc lại, làm đệm, đấm đá, luyện tập vất vả. Sau vài năm, họ biết khá rồi, cho huấn luyện viên về, tự lo lấy. Bây giờ họ là vô địch ĐNÁ, đang nhắm chức thế giới. Và thứ võ này là một trong những môn thể thao hàng đầu ở VN”.
Ông Loong kết luận:“Chúng ta cần có một tinh thần như thế”.
Singapore không có tài nguyên, một chút đất trồng rau cũng không có, ngay nước dùng hàng ngày còn lo thiếu. Tất cả mọi thứ đều phải nhập cảng. Chỉ còn vốn liếng đáng quý hơn cả là con người. Thay vì hy sinh con người để làm anh hùng, hay làm “nghĩa vụ quốc tế vẻ vang”, Singapore đã cố gắng chăm sóc và xây dựng người dân của mình để tạo một thành phố tiến bộ kiểu đệ nhất thế giới, nằm trong thế giới thứ ba. Singapore hiện nay là thành phố sạch sẽ vào hàng nhất thế giới. Người ta có thể đi bộ vẹt gót giày khắp phố lớn phố nhỏ, mà không sợ đạp cứt chó như ở Paris. Singapore cũng an ninh vào hạng nhất thế giới. Thẩm phán Tối cao Pháp viện David Souter bị tấn công khi đang chạy bộ gần nhà ở Washington DC, mới 9 giờ tối, vào cuối tháng Tư năm ngoái. Tôi từng bị móc túi ở New York, Paris, và bị người lái taxi lừa khi vừa ra khỏi phi trường Roma, nhưng hoàn toàn yên tâm khi di chuyển ngày hay đêm, đi bộ hay taxi tại Singapore.
Tuy tinh thần phục vụ của người Singapore hiện nay rất cao, ví dụ người tính tiền tại các chợ hay cửa hàng, mỗi khi trao đổi với khách, đều dùng cả hai tay và kính cẩn cúi đầu, miệng nói cám ơn, nhưng Thủ tướng Loong vẫn chưa hài lòng. Ông than rằng Singapore thiếu văn hóa phục vụ tự nhiên. Ông so sánh với người Thái, người Ấn, người Nhật, người Úc, mỗi khi gặp khách đều có lời chào trước khi vào việc, trong khi người Singapore hỏi ngay là mình có thể giúp gì, hay tệ hơn, là ông hay bà muốn gì. Ông đã coi việc phục vụ như một danh dự, và quyết định nâng cao phẩm chất phục vụ lên hàng quốc sách, trao cho một tổng trưởng chịu trách nhiệm. Khẩu hiệu mới của Singapore là “GST”, chữ đầu của “Greet, Smile and Thank” (CCC – Chào, Cười và Cảm ơn).
Giống như ông Reagan làm trong mỗi dịp đọc Thông điệp Liên bang, ông Lý Hiển Long đã giới thiệu, và kể những câu chuyện về mấy thường dân đặc biệt. Một trong những người được ông đề cao, là bà cựu thư ký 63 tuổi. Bà này vì hoàn cảnh, đã phải đổi nghề nhiều lần. Cuối cùng, nhận việc lau chùi cầu tiêu, kiếm thêm tiền để dành cho con đi hoc. Con bà không muốn, hỏi bà: Sao má hạ mình quá thấp như vậy? Bà trả lời, chùi cầu tiêu không làm mất nhân phẩm. Làm để sống, đâu có trộm cắp ai. Kết thúc câu chuyện, ông muốn mọi người “biết và tin rằng phục vụ là việc làm danh dự. Không phải là những việc thấp hèn”.
Qua việc Thủ tướng Singapore đề cao người chùi cầu tiêu, khiến tôi liên tưởng tới chuyện mới xảy ra tại trụ sở Liên Hiệp Quốc. Trong phiên họp thượng đỉnh cấp quốc trưởng tại Hội đồng Bảo an của khóa họp thứ 60, Đại Hội đồng LHQ ở New York vào ngày 14-9-05, ký giả của hãng Reuters, dùng ống kính nhìn xa, đã chụp được tay tổng thống Bush đang viết một cái note cho Ngoại Trưởng Condoleezza Rice ngồi cạnh. Phóng ảnh to lên, đọc được mấy chữ của ông Bush, không phải chuyện sống còn của thế giới, mà là:
“Tôi nghĩ rằng tôi cần đi cầu. Liệu có được không?” (I thinhk I may need a bathroom break. Is this possible?).
Điều này nhắc nhở mọi người một thực tế là, dù có quyền lực lớn nhất thế, ông Bush cũng không thể cưỡng nổi tiếng gọi của thiên nhiên. Vậy thì, hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày, không nên đo bằng tiền bạc hay quyền cao chức trọng, hãy đo bằng chỉ số cầu tiêu.
Singapore là nơi nhiều cầu tiêu và sạch sẽ nhất thế giới. Washington, DC. nhờ có nhiều bảo tàng viện và đài kỷ niệm, nơi nào cũng đầy đủ cầu tiêu, nên cũng đỡ. Paris tệ nhất, vừa ít, thiếu vệ sinh, lại phải trả tiền. London khá hơn, nhưng vẫn không có nhiều. Tại New York, năm 1990, Trung tâm Công lý Đô thị (Urban Justice Center) đã kiện thành phố vì không cung cấp đủ nhà vệ sinh công cộng. Dù vậy, trải qua ba đời thị trưởng, kể cả thị trưởng nổi tiếng thế giới Giuliani cũng không thỏa mãn được nhu cầu này. Mới đây, ông thị trưởng Bloomberg đã chọn công ty Cemusa của Tây Ban Nha để thiết lập 20 nhà cầu trên đường phố.
Trong khi ấy, tại Singapore, nhìn chỗ nào cũng thấy dấu hiệu nhà vệ sinh. Tại các tiệm bán hàng lớn, nhà vệ sinh nhiều gấp hai gấp ba lần so với bên Mỹ. Ví dụ tại Tyson Corner, khu thương mại lớn nhất ở ngoại ô Washington, DC., khách của nhà bán hàng vào loại sang Nordstrom, nhiều khi từ tầng này phải qua tầng khác, kiếm mãi mới thấy WC. Tại Singapore, tiệm Takashimaya ở đường Orchard, trong cả 7 tầng, mỗi tầng đều có bốn nhà vệ sinh, hai nam, hai nữ. Ngoài số lượng, nhà vệ sinh Singapore còn có phẩm chất cao, chỗ nào và lúc nào cũng sạch sẽ.
Theo báo DanTri.com.vn, du khách ngoại quốc đã phiền hà rất nhiều, vì Việt Nam thiếu nhà vệ sinh công cộng. Những nơi có nhà vệ sinh thì bị đòi tiền quá giá chính thức. Những nơi không nên có nhà vệ sinh, thì lại có, như cạnh chỗ nấu ăn, khiến thực khách từ chối không ăn. Vẫn theo báo này, một doanh nhân đã khuyên:
“Khoan hãy nói tới những chuyện to tát khác, khoan hãy tốn tiền cho những chuyến đi quảng bá hình ảnh du lịch ở nước ngoài, nếu chưa lo được… cái W.C cho du khách!”
Trong khuôn khổ kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, ngày 18-8, Bộ Ngoại giao Việt Nam long trọng công bố cuốn sách “Thành tựu bảo vệ và phát triển con người ở Việt Nam”. Cuối mục “Bảo đảm quyền về y tế”, sách ghi nguyên văn:
“Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng hố xí hợp vệ sinh năm 1995 là 27,33% (thành thị 54,9%, nông thôn 17,3%), năm 2000 là 44,07% (thành thị 81,77%, nông thôn 32,49%).”
Những con số này nói gì? Con số đầu cho biết trong nửa thế kỷ vừa qua, chỉ có hơn một phần tư trong số gần 80 triệu nhân dân Việt Nam anh hùng được sử dụng hố xí hợp vệ sinh, còn hơn 50 triệu dân vẫn phải bài tiết một cách thiếu vệ sinh. Con số thứ nhì cho thấy, 55 năm sau khi cách mạng thành công, hơn một nửa nhân dân anh hùng vẫn chưa có được cái hạnh phúc nhỏ nhoi là sử dụng hố xí hợp vệ sinh.
Sự khác nhau giữa Singapore và Việt Nam đã phản ảnh rõ qua lời tuyên bố tiêu biểu của nhà lãnh đạo hai quốc gia trong lễ độc lập của mình. Tuy được xếp ngang với các nước hàng đầu thế giới về nhiều phương diện, Thủ Tướng Lý Hiển Long vẫn tuyên bố:
“Singapore chúng ta không có một văn hóa phục vụ tự nhiên… chúng ta còn phải cố gắng nhiều để đạt trình độ thế giới…” (In Singapore, we don’t have a natural service culture… we have a long way to go to reach world class…).
Nhiều người thắc mắc, tại sao dân tộc Việt Nam thông minh, cần cù và hy sinh nhường ấy, vẫn không thể tiến bộ?
Trong dịp kỷ niệm 40 năm độc lập, báo chí Singapore phỏng vấn nhà lãnh đạo lão thành Lý Quang Diệu về tương lai đất nước, ông trả lời:
“Chúng ta đã không phung phí 40 năm qua và không lý nào chúng ta không thể phát lên được.” (We’ve not wasted the last 40 years and there’s no reason we can not make this breakthrough) .
Tác giả: Đ T Thức (ngày 02/09/2011
tranhuuuy | 19 December, 2011 16:46
Quản lý dự án là một quá trình phức tạp, không có sự lặp lại, nó khác hoàn toàn so với việc quản lý công việc thường ngày của một nhà hàng, một công ty sản xuất hay một nhà máy - bởi tính lặp đi lặp lại, diễn ra theo các quy tắc chặt chẽ và được xác định rõ của công việc.
Trong khoảng một thập niên trở lại đây, cùng với xu hướng hội nhập khu vực hóa, toàn cầu hóa trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tư xây dựng. Công tác quản lý đầu tư xây dựng ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác và nhiều bộ môn liên quan. Do đó, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng, và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình dân dụng ở nước ta trong thời gian tới. Thực tiễn đó đã thúc đẩy sự ra đời một công việc mới mang tính chuyên nghiệp thực sự: Quản lý dự án - một nghề đòi hỏi tính tổng hợp và chuyên nghiệp từ các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động tư vấn, kể cả trong nước và nước ngoài.
Trước hết, cần phải hiểu Quản lý dự án (Project Management - PM) là công tác hoạch định, theo dõi và kiểm soát tất cả những khía cạnh của một dự án và kích thích mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn với các chi phí, chất lượng và thời gian dự kiến. Nói một cách khác, Quản lý dự án (QLDA) là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Quản lý dự án là một quá trình phức tạp, không có sự lặp lại. Nó khác hoàn toàn so với việc quản lý công việc thường ngày của một nhà hàng, một công ty sản xuất hay một nhà máy - bởi tính lặp đi lặp lại, diễn ra theo các quy tắc chặt chẽ và được xác định rõ của công việc. Trong khi đó, công việc của quản lý dự án và những thay đổi của nó mang tính duy nhất, không lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào. Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, thậm chí trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý tưởng từ chủ đầu tư. Cho nên việc điều hành quản lý dự án cũng luôn thay đổi linh hoạt, không có công thức nhất định.
Vòng đời của Dự án
Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ ràng nên dự án có một vòng đời. Vòng đời của đự án (Project life cycle) bao gồm nhiều giai đoạn phát triển từ ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả và đến khi kết thúc dự án.
Thông thường, các dự án đều có vòng đời bốn giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn hình thành dự án; giai đoạn nghiên cứu phát triển; giai đoạn thực hiện & quản lý; giai đoạn kết thúc.
Tiến trình công việc chính như: Xây dựng ý tưởng ban đầu, xác định qui mô và mục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của dự án, xác định các nhân tố và cơ sở thực hiện dự án;
Giai đoạn hình thành dự án có các công việc chính như: Xây dựng ý tưởng ban đầu, xác định qui mô và mục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của dự án, xác định các nhân tố và cơ sở thực hiện dự án.
Giai đoạn nghiên cứu phát triển: xây dựng dự án, kế hoạch thực hiện và chuẩn bị nguồn nhân lực, kế hoạch tài chính và khả năng kêu gọi đầu tư, xác định yêu cầu chất lượng, phê duyệt dự án;
Giai đoạn thực hiện (hay giai đoạn triển khai): thông tin tuyên truyền, thiết kế Quy hoạch và Kiến trúc, phê duyệt các phương án thiết kế, đấu thầu xây dựng và tổ chức thi công xây dựng, quản lý và kiểm soát;
Giai đoạn kết thúc: hoàn thành công việc xây dựng, các hồ sơ hoàn công, vận hành thử công trình, giải thể nhân viên, kiểm toán và tất toán. Trong mỗi dự án đều có nhiều thành phần tham gia, còn gọi là các bên của dự án. Các bên của dự án là các cá nhân hoặc tổ chức có liên quan đến dự án, hoặc là những người được hưởng lợi hay bị xâm hại khi dự án thành công, bao gồm: Chủ đầu tư, Nhà tài trợ hoặc người cung cấp tài chính, Ban quản lý dự án, Khách hàng, Nhà tư vấn thiết kế, Nhà thầu chính và các nhà thầu phụ, Các nhà cung ứng, Cơ quan quản lý nhà nước, Nhân dân địa phương, Nhà bảo hiểm...
http://yume.vn/tran_quoc_vinh/article/quan-ly-du-an.35D568E0.html
tranhuuuy | 19 December, 2011 16:40
Buổi sáng đi làm, chị nhìn thấy bánh trước của chiếc xe máy bị xẹp hoàn toàn, chị nghĩ: «May quá, nếu xe xẹp lốp trên đường cao tốc thì không biết hậu quả sẽ ra sao».
Vì phải dắt xe đi thay săm nên chị đến công ty trễ mất 15 phút. Bà phó phòng nói rằng giám đốc cho gọi chị. Chị nghĩ: “Nếu giám đốc khiển trách về việc đi làm trễ thì mình sẽ thành khẩn xin lỗi chứ không thanh minh”.
Nhưng không có một lời khiển trách nào cả. Sếp gặp chị để mong chị thông cảm rằng lẽ ra hôm nay chị phải nhận được quyết định tăng lương, vì đã đến hạn, nhưng vì mục tiêu chống lạm phát nên Chính phủ đã cắt giảm nhiều hạng mục đầu tư công, trong đó có một dự án của công ty. Do vậy, tình hình tài chính của công ty có gặp khó khăn nên chị và một số người đáng lẽ được tăng lương đợt này nhưng phải lùi lại một thời gian và sẽ được đền bù vào kỳ tăng lương sau.
Chị về phòng làm việc với một niềm vui nho nhỏ: “Vẫn là may. Nhà nước cắt giảm đầu tư công tới hơn 41.000 tỷ đồng, nhiều doanh nghiệp lao đao, phải giảm lương của cán bộ công nhân viên, thậm chí có đơn vị phải cắt giảm nhân lực. Mình không bị giảm lương, lại còn được đền bù vào kỳ tăng lương sau, thế là may. Cái may thứ hai là mình được làm việc với một ông giám đốc tài ba và rất tử tế”. Buổi chiều, chị mua hải sản, làm một bữa cơm thịnh soạn để cả nhà ăn mừng ba cái may trong ngày của chị.
Ngày hôm sau, trên đường đi làm về, chồng chị bị một gã ngổ ngáo chạy xe đánh võng va vào xe của anh ấy, khiến chồng chị bị tai nạn, xây xát ở chân và tay. Khi nghe chồng kể chuyện này, chị nghĩ: “Thế là quá may, bị tai nạn giao thông mà chỉ xây xát nhẹ chứ không phải vào viện”. Và chị lại làm một bữa tươi để ăn mừng cái may của gia đình mình. Khi mẹ chị qua đời vì tuổi cao và bệnh nặng, tôi đến chia buồn, chị nói: “May mà mẹ em đi vào một ngày tuyệt đẹp, nắng vàng rực rỡ, lại là ngày hoàng đạo, không có mưa nên cái huyệt rất khô ráo”.
Như thế đó, chị là một người suốt đời gặp may. Đó không chỉ là một lối tư duy tích cực mà còn là một lối sống lạc quan và nhờ lối sống này mà chồng con chị không bao giờ phải nghe tiếng thở dài (cái âm thanh não ruột nhất thường phát ra từ người đàn bà). Ở đâu và bao giờ, nụ cười cũng luôn nở trên môi chị và nhờ thế, trong giao tiếp chị luôn chiếm được cảm tình của người khác và chị làm việc gì cũng hanh thông. Giờ đây tuy đã gần 40 tuổi rồi nhưng nom chị vẫn trẻ trung như tuổi 20.
Hạnh phúc là gì? Câu hỏi này rất khó trả lời. Giàu có chưa chắc đã hạnh phúc. Tiền bạc và của cải là thứ mà ai ai cũng muốn tìm kiếm nhưng không phải cứ muốn là có. Song một lối sống lạc quan là cái mà chúng ta hoàn toàn có thể tự tạo ra được.
Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/tranthedung2005/
tranhuuuy | 04 December, 2011 23:03
“TS. Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan đã xuất bản 7 cuốn sách bằng Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các quốc gia mới nổi. Ông tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là gocnhinalan@gmail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com”
Ông là một doanh nhân nổi tiếng, từng trải và đã có khá nhiều thành công trong cuộc đời. Điều quý báu nhất ở ông là việc đem những tâm huyết, kinh nghiệm xương máu của mình truyền lại cho mọi người, nhất là các em sinh viên. Những bài viết của ông không chỉ là kiến thức mà quan trọng hơn là những kiến thức đã qua trải nghiệm, cọ xát thực tế…cộng với cách viết, lối nói chuyện giản dị, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, đã đem lại nhiều suy tưởng, gợi mở, cảm giác “đau đáu” và cả niềm tin muốn gửi gắm của tác giả. Mình chép một số bài của TS về đây vừa để làm tư liệu, vừa để nghiền ngẫm, kiểm nghiệm lại để có thêm động lực sống. Cám ơn TS Alan Phan.
Có lẽ các bạn trẻ Việt không hứng thú nhiều đến chuyện làm ăn như chúng ta đã lầm tưởng?
Cuối tuần qua, tôi được mời đến Đại Học Ngân Hàng ở Thủ Đức để tản mạn cùng các bạn sinh viên trẻ về cơ hội khởi nghiệp trong năm Thìn mà nhiều kinh tế gia thế giới dự đoán là năm của biến động và suy thoái. Nhóm tổ chức hội thảo gồm 6 đại học liên đới có tổng cộng 45 ngàn sinh viên. Chỉ khoảng 100 người hiện diện, dù sáng thứ Bảy 19/11 là một ngày đẹp trời. Tôi nhớ buổi nói chuyện, cũng miễn phí và cùng đề tài, ở đại học Fudan, Thượng Hải 10 năm về trước. Có đến hơn 2,000 sinh viên chen nhau trong mưa, ban tổ chức phải dời địa diểm đến nơi lớn hơn.
Máu kinh doanh?
Có lẽ các bạn trẻ Việt không hứng thú nhiều đến chuyện làm ăn như chúng ta đã lầm tưởng? Hay là vì ngày hôm đó, một bạn trẻ giải thích, các sinh viên đều muốn nghỉ ngơi để lấy sức tối nay đi bão. Trận bóng đá với Indonesia để vào chung kết giải SEA games là một chờ đợi từ hai năm nay và rất quan trọng cho niềm tự hào dân tộc. Nhưng dù thế nào, đơn giản đây chỉ là một buổi nói chuyện không lấy gì làm thú vị cho các sinh viên ngành kinh tế và ngân hàng. Hay tại hai diễn giả, tôi và TS. Nguyễn Mạnh Hùng, không đủ kỹ năng và kinh nghiệm?
Trong cái quan sát phiến diện của tôi qua nhiều quốc gia, những dân tộc thích làm ăn thường có mức sống và thu nhâp khả quan hơn các bạn láng giềng. Phi thương bất phú mà? Dĩ nhiên, còn rất nhiều yếu tố khác liên quan và ảnh hưởng, như môi trường văn hóa, cơ chế chánh phủ, thời cơ thuận lợi hay tài nguyên dồi dào. Tuy nhiên, nếu giữ các mẫu số chung khác đồng đều, thì tựu trung, một người Mỹ vẫn thích kinh doanh hơn một người Mexican, người Tàu thích buôn bán hơn người Mã Lai, người Đức thích làm ăn hơn người Tây Ban Nha?
Máu làm quan?
Riêng về chúng ta, một ông Pháp nào đó có câu phê bình là trong mỗi người Việt Nam đều hiện diện một ông quan nhỏ (un petit mandarin). Qua bao thời đại, mộng ước của phần lớn thanh niên Việt là học giỏi để đỗ cao và làm quan. Bài thơ "Trăng Sáng Vườn Chè" là một thể hiện của giấc mơ Việt. Lấy được công chúa để làm phò mã là trúng số độc đắc.
| Ảnh: Sinh vien Duoc |
Gần đây, sau khi một số đại gia mua máy bay riêng, biểu diễn siêu xe và cặp kè chân dài, giới doanh nhân mới được để ý và tạo vài ấn tượng đến các bạn trẻ. Tuy nhiên, lấy tiền của bố mẹ để khoe khoang thì vẫn thỏai mái hơn là đầu tư vài chục năm công sức vào một dự án kinh doanh. Lý tưởng tuyệt vời nhất là dùng thế lực "con cháu" để được bổ nhiệm làm quản lý một tập đoàn quốc doanh. Vừa có tiền vừa có quyền.
Con đường vất vả
Trong buổi hội thảo, tôi nói về 6 yếu tố căn bản của mọi thành công bền vững trên thương trường: động lực, sức khỏe, thời gian, hành động, kiến thức và may mắn. Tôi nói thêm về những thất bại sẽ đến, ý chí để tiếp tục giữ lửa, và những sáng tạo liên tục để duy trì lợi thế cạnh tranh. Sau đó, một bạn trẻ phê bình là sao quy trình thành công của chú mệt mỏi quá vậy? Chú chỉ cho cháu "một con đường tắt để đón đầu" đi. Tôi trả lời là nghe nói ở đây, đường tắt cũng vất vả, sao cháu không thử gõ cửa sau của căn nhà cháu muốn đến?
Tôi cũng nói về mặt trái của kinh doanh: những áp lực hàng ngày từ mọi phía, những trách nhiêm với nhân viên, cộng đồng và những chuẩn mực đạo đức để tạo một thương hiệu lâu dài. Đây là những gánh nặng có thể làm suy sụp sức khỏe cá nhân, hạnh phúc gia đình và mục tiêu đời sống. Do đó, tôi hoàn toàn thông cảm với lựa chọn của bạn trẻ về một con đướng an nhàn hơn khi ra trường; việc tốt nhất là chạy chọt được một chỗ trong các công sở nhiều bổng lộc.
Con đường mơ ước
Sau 5 ngàn năm tiến hóa của nhân loại, định luật Darwin không ứng dụng ờ Viêt Nam. Một anh trưởng thôn hay trưởng xã vẩn oai quyền và sống sung túc như thời phong kiến hơn trăm năm trước. Có lẽ vì văn hóa và truyền thống, người dân vẫn phải co rúm như một con sâu khi đối diện với một ông quan, dù là quan làng. Khác với tư duy cùa các dân tộc Âu Mỹ: lương anh chị lấy từ tiền thuế của tôi thì tôi là người chủ, trả lương cho anh chị để được phuc vụ.
Vào năm 2007, tôi có dịp đến Sở Kế Hoạch Thành Phố để ký vào một văn kiện gì đó trong việc xin giấy phép kinh doanh. Buổi trưa trời nóng như thiêu đốt và tôi muốn đi bộ sau bữa ăn no cho tiêu cơm. Chiếc quần ngắn và cái áo thun là một giải pháp hợp lý. Khi đến cổng, hai ông bảo vệ không cho tôi vào. Tôi hỏi lý do và được biết là lối ăn mặc của tôi "tỏ thái độ vô lễ" với các ông công bộc đang ngồi trong phòng lạnh. Sau một biện luận chừng 5 phút, tôi phải rút lui vì phản hồi của hai ông bảo vệ rất logic và vững vàng. Thuyết phục nhất là lời đe dọa sẽ "nhốt tôi" nếu còn cãi bậy.
Thế giới chúng ta
Cũng trong buổi mạn đàm, tôi nói về một chuyến xe buýt buổi sáng ở Copenhagen năm 1966. Tôi đứng cạnh ông Otto, Thủ Tướng Đan Mạch, vì xe đông người không còn chỗ ngồi. Ông ta đang trên đường đi làm hàng ngày và dù chào hỏi nhau thân mật, không hành khách nào có ý định nhường chỗ cho ông quan lớn. Sau khi nghe chuyện, một cô sinh viên nói là cô nghe như chuyện khoa học giả tưởng. Cô hỏi tôi cái thế giới ngoài kia đã vào thế kỷ 21 rồi phải không thầy?
Vì chúng ta còn sống trong quá khứ, tôi hiểu ra là thế hệ "trí thức" tiếp nối của Việt Nam vẫn coi chuyện làm quan là con đường của lựa chọn. Làm doanh nhân vất vả và mất nhiều thời gian quá. Chỉ có một ít anh chị ngu và liều hay nghèo và cô đơn mới đi vào đường này. Tôi ra về, buổi trưa nắng gắt, nhưng ở chân trời, những đám mây đen đã mù mịt. Trời sẽ mưa to chiều nay. Một bài hát xưa cũ bổng vang vọng...
"Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn...còn nhiều em ơi..."
TS ALAN PHAN
tranhuuuy | 04 December, 2011 23:01
Trong suốt lịch sử thế giới, cái tệ hại của mỗi thời kỳ vàng son là một kết cuộc thảm thương cho mọi người dân. Bong bóng bao giờ cũng vỡ. Nợ quá tải bao giờ cũng đáo hạn sớm hơn dự định. Người giàu thì phá sản vì lối kinh doanh đòn bẩy phiêu lưu không còn thích hợp, người trung lưu thì trắng tay vì giá trị tài sản biến mất, lây lắt bám víu vào một nền kinh tế khập khiễng. Các quan chức chính phủ thì luôn luôn bó tay vì không hiểu chữ sáng tạo hay tiết kiệm là gì?
Đọc lịch sử thế giới, tôi luôn say mê về những góc nhìn tiêu biểu cho thời vàng son của mỗi quốc gia. Từ đế chế La Mã, Hy Lạp ngày xưa đến Anh, Mỹ, Nhật thời cận đại, chúng mang nhiều nét đặc thù, những tựu trưng, vẫn có rất nhiều tương đồng. Xã hội và con người trong những thời kỳ huy hoàng này, nhất là giới cầm quyền thượng lưu, luôn luôn mang đậm những cá tính hồ hởi lạc quan, phô trương quyền lực và sự giàu có, đắm mình trong lễ hội và tiệc tùng, sống không lo âu đến ngày mai vì nghĩ rằng … những ngày hè nắng đẹp sẽ kéo dài bất tận. Người Mỹ có bài hát mô tả tình huống này, “Let the good times roll” mà người Pháp tán đồng nồng nhiệt ” Laisser les bon temps rouler.” Thời vàng son ơi, hãy tiếp tục trôi…
Nước Mỹ trong thập kỹ 1920s được biết đến bằng tên “The Roaring Twenties” (Những năm hoan lạc của 1920s). Thế chiến Thứ Nhất vừa chấm dứt và Mỹ hưởng lợi rất nhiều vì đã cho các nước thắng trận (Anh, Pháp) vay những khoản tiền rất lớn cho chiến tranh, cũng như đã cung cấp vũ khí cho cả hai bên với giá tốt. Nước Mỹ đang sửa soạn thay thế đế chế Anh trên khắp thế giới vì sức mạnh tài chính của mình. Những công nghệ mũi nhọn mới đem thế lực kinh tế và văn hóa Mỹ phủ khắp toàn cầu (xe hơi, phim ảnh, radio, kỹ nghệ hóa học, nhạc jazz…) trong khi châu Âu vẫn còn là đống tro hoang tàn vì chiến tranh và châu Á vẫn là các thuộc địa chậm tiến. Thị trường chứng khoán và địa ốc tăng trưởng đột biến, người dân Mỹ ngoài thu nhập cao còn hưởng những khoản lời này nên cảm thấy giàu có nhất thế giới, và tương lai chưa bao giờ có một hứa hẹn rực rỡ như vậy. Dân quê ào ạt đổ về thành phố tìm sự giàu có, “đô thị hóa” ở Mỹ thực sự bộc phát.
Cùng với nhân dân, chính phủ Mỹ nới rộng tín dụng, giữ lãi suất thật thấp và bắt đầu những công trình xây dựng hạ tầng khắp quốc gia. Xa lộ, đường sắt, xe điện ngầm, nhà máy điện nước, cảng biển… mọc lên như nấm sau cơn mưa dài. Giá cả mọi tài sản trở thành… bong bóng, xa rời thực tế. Nợ công ngày càng chồng chất và lạm phát bắt đầu quậy phá.
Ngày 29/10/1929 thực tế của thị trường ghé thăm. Wall Street sụp đổ với 13% giảm sút trong chỉ số Dow Jones (lên đến 58% trong nhiều tuần sau đó và 89% vào 1931). Nước Mỹ kéo toàn thế giới vào cuộc Đại Suy Thoái suốt thập niên 1930s cho đến khi Thế Chiến Thứ Hai bắt đầu.
Trong suốt lịch sử thế giới, cái tệ hại của mỗi thời kỳ vàng son là một kết cuộc thảm thương cho mọi người dân. Bong bóng bao giờ cũng vở. Nợ quá tải bao giờ cũng đáo hạn sớm hơn dự định. Người giàu thì phá sản vì lối kinh doanh đòn bẩy phiêu lưu không còn thích hợp, người trung lưu thì trắng tay vì giá trị tài sản biến mất, lây lắt bám víu vào một nền kinh tế khập khiễng. Các quan chức chính phủ thì luôn luôn bó tay vì không hiểu chữ sáng tạo hay tiết kiệm là gì?
Trong những thời vàng son đó, tôi thích tìm hiểu về những nhân vật đầy quyền lực, giàu có của xã hội, đã được hoàn cảnh đưa đẩy lên đỉnh cao của quốc gia, và đời sống họ là những bức tranh trung thực nhất của môi trường chung quanh.
Không ai mà không ấn tượng với những câu chuyện về Du Yue Sheng, thủ lãnh của băng đảng Green Gang, đã đem Thượng Hải thời 30s lên bao nhiêu là phim ảnh của Tàu và Mỹ. Anh chàng xã hội đen này, xuất thân là một nông dân nghèo của Pudong, đã leo lên ngai thị trưởng (không chính thức ) của Thượng Hải, qua những quan hệ làm ăn với Tưởng Giới Thạch và các quan chức địa phương. Thậm chí, ông còn tài trợ cho phần lớn các chiến dịch càn quét của họ Tưởng trong chiến tranh.
70 năm sau, Trung Quốc lại cống hiến cho lịch sử một nhân vật đầy màu sắc, là Lai Chang Xing, cũng là một nông dân nghèo của tỉnh Hạ Môn. Khởi nghiệp bằng con số không, Lai đã thu góp được một tài sản khổng lồ hơn 16 tỷ USD (theo cáo trạng của chánh phủ) trong thời gian ngắn ngủi chưa đầy 5 năm. Lai đã khống chế hoàn toàn các cơ quan công lực của Hạ Môn rồi Trung Ương, từ cảnh sát đến hải quan, để tổ chức được một mạng lưới buôn lậu xe hơi, dầu khí và thuốc lá khắp nước. Sự sụp đổ của Lai là do Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Chu Dung Cơ muốn dùng con bài của Lai để lật đổ thế lực hùng mạnh của nhóm Bắc Kinh. Lai bị án tử hình, trốn được qua Canada; còn ở nhà, Thị Trường Bắc Kinh và 4 nhân vật cao cấp phải tự tử chết. Gần 400 quan chức bị đưa ra Tòa về vụ việc này gồm 2 Bộ Trưởng, 26 tỉnh ủy, 86 huyện ủy và kết quả có 14 án tử hình.
Nhân vật đình đám nhất của The Roaring Twenties bên Mỹ là William Randolph Hearst. Ông tạo lập một gia tài khổng lồ qua sự thiết lập và thu tóm hơn 30 tờ báo chính tại các thành phố lớn (New York, San Francisco, Chicago, Los Angeles..), 8 tạp chí (Cosmopolitan, Good Housekeeping…) vài đài phát thanh và một phim trường ở Hollywood. Ông cũng từng là dân biểu, nghị sĩ, nhưng thất bại trong việc ứng cử vào chức Thị Trưởng New York, bàn đạp cho Tòa Bạch Ốc. Ông là king-maker (kẻ tạo vua chúa) trong rất nhiều cuộc bầu cử vì ảnh hưởng khủng khiếp của mạng truyền thông trong xã hội Mỹ. Ông lại có một cuộc sống xa hoa với tiệc tùng và scandal, gây ra không biết bao nhiêu câu chuyện hấp dẫn cho đám đông luôn thờ phụng những nhân vật nổi tiếng (celebreties). Khu lâu đài của ông ở San Simeon California vẫn là một trung tâm thu hút bao du khách ngày nay. Trên hết, Orson Welles dùng ông như là một cảm hứng để tạo nên cuốn phim Citizen Kane, mà nhiều nhà phê bình cho là phim hay nhất qua mọi thời đại của lịch sử điện ảnh.
Một trong những scandal tiêu biểu trong năm 1924 là chuyện ông bắn chết một người bạn trên du thuyền tại một bữa tiệc sinh nhật vì ghen tuông và vì lầm tưởng anh ta là Charlie Chaplin, danh hề của những phim Charlot. Chaplin đang ái ân vụng trộm với cô đào nổi danh Hollywood, Marion Davies, hiện là nhân tình số một của ông. Nhưng ông không bị điều tra hay kết tội gì về vụ giết người này: dù sao, ông cũng là W.R. Hearst, người vừa giúp Tổng Thống Mỹ Calvin Coolidge đắc cử hai tuần trước đó.
Tôi chắc rằng những nhân vật xã hội của mọi thời vàng son đều có những trải nghiệm và tình huống tương tự. Khi tôi về lại Việt Nam vào 2006, người dân giàu có của xã hội thượng lưu ở đây cũng đầy những mẩu chuyện thú vị hào hứng, pha lẫn giữa sự thực và các tin đồn. Những huyền thoại về Phạm Nhật Vượng, Đoàn Nguyên Đức, Cường Đô La, Đào Hồng Tuyển… chiếm đầy các tít lớn của các tờ báo, tạp chí. Thời vàng son của một chu kỳ mới trong kinh tế vừa nổi của Việt Nam cùng bắt đầu vào thời điểm này.
Trở lại với câu chuyện của Hearst và The Roaring Twenties, lịch sử cho thấy một kết cuộc đáng buồn. Hearst gần như bị phá sản trong cuộc Đại Suy Thoái thập niên 30s và The Roaring Twenties chỉ còn vang vọng trong tiểu thuyết. Một tác giả là bạn thân của Hearst đã viết hồi ký về thời vàng son của Hearst và bạn bè,” Chúng tôi đã ăn chơi, nhảy múa không ngừng nghĩ trong những tiệc tùng thâu đêm. Rượu, ma túy, sex và những thị phi làm chúng tôi say sưa không biết mệt. Nhiều người vẫn cảm nhận sự điên cuồng và ngu xuẩn của những vũ điệu Charleston mỗi đêm, nhưng chúng tôi biết rằng, nếu giàn nhạc ngừng chơi, vũ điệu ngừng quay, thì chúng tôi sẽ không có gì… ngoài một trống vắng toàn diện.” Thế cho nên, let the good times roll, thời vàng son ơi, hãy tiếp tục trôi.
Hôm nọ, trong đêm giá rét của Hà Nội, tôi ghé vào quán cà phê ở Sheraton Westlake, chợt loáng thoáng nghe lại bài nhạc “Let the good times roll”. Nó nhắc tôi về W.R. Hearst và The Roaring Twenties của xứ Mỹ xa xôi. Nó làm tôi tự hỏi chúng ta đã học được gì khi lịch sử tái diễn?
T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan đã xuất bản 7 cuốn sách bằng Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các quốc gia mới nổi. Ông tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là gocnhinalan@gmail.comvà Website cá nhân là www.gocnhinalan.com
tranhuuuy | 04 December, 2011 22:59
Sau chiến thắng to lớn ở Điện Biên năm 1954, chiến thuật du kích mọc rễ vào tư duy và văn hóa Việt Nam. Không những thông dụng trong các ứng xử hàng ngày, nhiều doanh nhân Việt coi chiến thuật này là căn bản để điều hành quản lý công ty.
Gợi ý từ “Binh Pháp” của Tôn Tử, các thế hệ nối tiếp đã kiến trúc chiến thuật du kích thành một hình thái “sống và đánh” dựa trên đặc điểm sau đây.
Trước hết, du kích quân thường là phe nhóm nhỏ nên họ phải tránh đối đầu trực tiếp với đại quân địch. Tập trung vào những trận chiến nhỏ, khi có lợi thế đặc biệt để tấn công nhanh và rút lui nhanh. Như vậy, nhóm du kích phải năng động, dùng nhiều xảo thuật gây bất ngờ, dựa vào sự liều lĩnh và sáng tạo thay vì nguyên tài lực lớn, làm hao mòn đối phương cho đến khi họ chán nản và bỏ cuộc.
Lối kinh doanh du kích cũng tốn khá nhiều giấy mực trong giới nghiên cứu về phương thức áp dụng trong quản trị và sách về cách tiếp thị du kích tràn ngập các tiệm. Riêng ông Harv Eker đã nổi danh khi lập ra cả một trường gọi là “Guerrilla Business School” để dạy hàng ngàn doanh nhân trẻ về chiến thuật này. Ông cho đây là cách hay nhất để khởi nghiệp cũng như để điều hành các doanh nghiệp tư nhân nhỏ. Lợi thế lớn nhất chống lại các đối thủ là xài tiền rất tiết kiệm qua các thủ thuật làm ăn khôn ngoan mưu mẹo để tạo một hiệu quả lớn trong hoạt động.
Tôi hoàn toàn đồng ý về tác dụng của chiến thuật du kích trong nhiều trường hợp làm ăn; đặc biệt là khi chúng ta còn non trẻ và cố gắng để sống còn. Nhưng khi tư duy của người quản lý bị giới hạn bởi tầm nhìn du kích thì doanh nghiệp chỉ có thể trở thành một tiểu thương, dù thành công trong việc kiếm tiền cho cá nhân và gia đình; cũng không gì ấn tượng khi so sánh với các bậc đàn anh đang dẫn đầu trên những sân chơi lớn bé của thế giới.
Yếu điểm của việc kinh doanh du kích chính là mặt trái của những yếu tố đã tạo sức mạnh cho chiến thuật này.
Vì nghĩ là mình nhỏ bé và phải né tránh các đối thủ, nên doanh nhân du kích thường ngại ngùng khi ra biển lớn để cạnh tranh trực tiếp trong một môi trường xa lạ. Gần đây, nhiều doanh nghiệp đã lên kế hoạch mạo hiểm tấn công thị trường mới như tư vấn của tôi (qua kế hoạch niêm yết trên sàn chứng khoán Mỹ, dùng đòn bẩy M&A và quản lý quốc tế) nhưng cuối cùng đã co rúm lại vào giờ chót như một du kích quân không muốn rời bỏ địa phương đã bám trụ. Cây đa đầu làng vẫn cao vút tầng xanh.
Yếu kém khác là sự năng động không cân đối. Vì quá năng động, doanh nhân du kích chụp lấy cơ hội mới không ngần ngại gây ra nhiều đầu tư dàn trải. Khác với một chiến thuật phát triển sâu rông và lâu dài khi ra biển lớn, ở trường hợp này, du kích quân thường nghĩ các cơ hội này là chuyện dễ thực hiện, đánh nhanh rút nhanh, không nhiều rủi ro. Dĩ nhiên, ai cũng thấy rõ hậu quả của những đầu tư dàn trải của nhiều doanh nghiệp Việt lớn nhỏ, nhất là khi giá chứng khoán và bất động sản quay chiều.
Tư duy du kích cũng phát sinh một văn hóa mù mờ, không minh bạch và có thể chứa đựng nhiều gian trá. Vì dựa vào yếu tố bất ngờ, cần che dấu kỹ thực lực cũng như ý định mình, nên doanh nghiệp du kich dùng nhiều ngụy trang, khiến chuyện cởi mở hoàn toàn (full disclosure) trở thành một vấn nạn cho đối tác, khách hàng và nhân viên. Khó ai mà đoán biết được suy nghĩ của các vị chủ nhân hay quản lý trong mục tiêu sau cùng hay những sắp xếp đằng sau hậu trường.
Trong chiến thuật, sinh mạng của du kích quân cũng tùy thuộc rất nhiều vào mức độ tin cậy vào đồng đội, đối tác và các quan hệ mật thiết. Đó là lý do doanh nghiệp du kích thường dùng “gia đình trị”, vì không đủ tin cậy người ngoài để sử dụng nhân tài, không làm ăn rõ ràng với người lạ và coi quan hệ với quan chức là cột sống quan trọng hơn sản phẩm, khách hàng, hay kế hoạch phát triển.
Tệ nhất trong tư duy du kích là một biện hộ thông dụng khi gây nên những sai trái về quản trị cũng như đạo đức. Lý do tiện lợi nêu ra là vì mình nhỏ yếu thì mình được phép sử dụng những chiêu đòn không chính thống hay còn gọi là tà giáo. Cứu cánh biện minh cho phương tiện là câu nói nằm lòng của các tay cơ hội.
Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã than phiền về những thủ đoạn ngắn hạn này của doanh nhân Việt và cũng là cá tính khá phổ thông ở Trung Quốc. Cái bề mặt hấp dẫn ngoạn mục ấn tượng ban đầu luôn luôn theo sau bằng những chiêu đòn hiểm hóc quái dị. Tôi hay mua kẹo hạt điều Việt để tặng bạn bè khi rời nước. Dù với những thương hiệu hàng đầu, lớp hạt điều trên mặt luôn lớn, đều và sạch so với lớp hạt điều phía sau, chúng đen, nhỏ, gẫy vụn và chứa nhiều đường hơn. Sau khi thử qua 7,8 thương hiệu để tìm một sản phẩm chất lượng đồng nhất, tôi đành bỏ cuộc. Những hàng xuất khẩu từ Việt Nam hay Trung Quốc thường mang tiếng xấu này trong giới mua hàng, từ áo quần giầy dép đến đồ gỗ hay thực phẩm. Nó gây cho đối tác cảm giác là không doanh nhân Việt nào muốn làm ăn trung thực và lâu dài.
Cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ đã đi vào lich sử hơn 30 năm và các lớp người trẻ trên thế giới thậm chí còn không biết tôi nói gì khi nói đến chiến tranh Việt Nam. Một sinh viên cao học Mỹ hỏi tôi là Việt Nam có tọa lạc gần Iran và Iraq? Một cô bán hàng người Ấn, sau khi tốt nghiệp cử nhân sử học, nói là Việt Nam đã liên minh với Nhật để đánh Mỹ và Đức trong một thế chiến nào đó thời Trung Cổ. Đây không phải là hai trường hợp riêng lẻ. Khi ra ngoài cộng đồng trí thức, thậm chí đến 99.99% người dân thế giới không biết gì về địa lý hay lịch sử Việt Nam. Với họ, Việt Nam không có một ảnh hưởng gì để bàn luận hay nhắc nhở, từ kinh tế chính trị đến văn hóa và dấu ấn xã hội. Dường như chỉ còn người Việt là bị nhắc nhở và ám ảnh hàng ngày bởi một chiến thắng xa xôi như trận chiến thành Troy của Hy Lạp hay trận bao vây La Mã của Hannibal.
Trong khi các lãnh đạo doanh nghiệp Á Châu bận rộn lên kế hoạch toàn cầu như Samsung của Hàn Quốc về hàng điện tử hay Hua Wei của Trung Quốc về thiết bị viễn thông hay Djarum của Indonesia về thuốc lá hay Shangri La của Singapore về khách sạn; những doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam coi chuyện phá rừng, trồng cao su ở Lào là mục tiêu quan trọng nhất trong 10 năm tới. Giống như khi người Pháp đến Đông Dương lần đầu hơn 120 năm về trước.
Bao giờ chúng ta mới rời bỏ khu rừng rậm trong đầu óc chúng ta?
(Bài viết đã được đăng trên Tạp Chí Doanh Nhân số 92 ngày 19 tháng 11 năm 2011)
T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan đã xuất bản 7 cuốn sách bằng Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các quốc gia mới nổi. Ông tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là gocnhinalan@gmail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com
tranhuuuy | 04 December, 2011 22:57
SGTT.VN - “Đừng lo sợ, nghi ngại, hãy đi tìm những cuộc phiêu lưu cho cá nhân mình” – tác phẩm 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc và Một tư duy mới cho kinh tế và xã hội Việt Nam của TS Alan Phan là những cuộc phiêu lưu kỳ thú với đầy đủ mùi vị đắng cay, ngọt bùi, những chia sẻ chân thực nhất của một trí thức doanh nhân từng làm việc cho nhiều công ty đa quốc gia và ngân hàng ở Wall Street.
Mô tả nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới, ông có cái nhìn khá bi quan? Ông nhận xét thế nào về môi trường kinh doanh ở Việt Nam?
Không chỉ Việt Nam, kinh tế toàn cầu trong ba đến năm năm tới sẽ rất khó khăn. Khủng hoảng tài chính năm 2008, thay vì để nó chết đi rồi lại tái sinh, người ta lại cho uống thuốc giảm đau, nên con bệnh vẫn chưa được giải phẫu, tình trạng ngày càng tệ hại. Kinh tế Việt Nam càng khó khăn gấp bội vì phụ thuộc quá nhiều vào nước ngoài. Hệ thống tài chính của ta có những mắt xích rất yếu, dễ gây đổ vỡ cho nền kinh tế, sự tiêu xài của người dân đang bội chi thường trực… tất cả gây nên phản ứng dây chuyền. Đôi khi phải mạnh dạn dẹp bỏ căn nhà cũ nát để xây căn nhà mới, nhưng rất tiếc chúng ta vẫn sống trong khu ổ chuột hoài, vì có người vẫn… thu được tiền nhà, không muốn phá đi. Văn hoá Việt Nam sẽ không thay đổi lắm, khó khăn nhất sẽ là doanh nghiệp nhỏ vốn ít, cạnh tranh cao, lãi suất cao, dẫn đến vay tín dụng đen, xã hội đen, vỡ nợ ngày càng nhiều, kéo theo một loạt các vấn nạn xã hội, cướp của, giết người, lừa đảo ngày một nhiều hơn… Một sân chơi không bằng phẳng, quá nhiều đặc quyền đặc lợi, bị trói buộc về hành chính, pháp lý, chủ nghĩa phong bì đè quá nặng. Những thói quen xấu như chụp giựt, tham lam, mánh mung, dối trá, liều lĩnh, sĩ diện… vẫn nhiều gấp chục lần các hành xử đạo đức, cẩn trọng, trách nhiệm, danh dự và hy sinh.
Nhìn vào đời sống dân sinh, điều gì làm ông lo ngại nhất?
Nhiều bậc trí giả lo ngại là so với thời cũ, chúng ta đã đi thụt lùi về đạo đức xã hội và hành xử văn minh. Tôi có cảm tưởng chúng ta vẫn sống và vẫn tranh đấu, suy nghĩ trong môi trường cả trăm năm trước. Những mặc cảm thua kém các ông chủ da trắng vẫn ám ảnh các bạn trẻ ngày nay. Trong lĩnh vực kinh doanh, phần lớn các doanh nhân vẫn cho rằng bất động sản và khoáng sản là căn bản của mọi tài sản. Sản xuất gia công và chế biến nông sản vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Một doanh nhân Trung Quốc đã mỉa mai với tôi khi đến thăm một khu công nghiệp của Việt Nam: “Họ đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”. Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ Việt Nam đang lần mò trong bóng tối của quá khứ, với sự khuyến khích của các nhóm muốn giữ quyền lực và bổng lộc.
Là người có nhiều kinh nghiệm trên thị trường tài chính, ông nhìn nhận thế nào về “hậu khủng hoảng” tại Việt Nam? Khi thị trường chứng khoán và địa ốc tụt dốc tới đáy, liệu có xảy ra một cuộc “thôn tính” hàng loạt bởi các công ty nước ngoài, và các thương hiệu Việt non trẻ sẽ mất quyền thi đấu ngay trên sân nhà?
| Đôi khi phải mạnh dạn dẹp bỏ căn nhà cũ nát để xây căn nhà mới, nhưng rất tiếc chúng ta vẫn sống trong khu ổ chuột hoài, vì có người vẫn… thu được tiền nhà, không muốn phá đi. |
Trên thương trường luôn luôn là cá lớn nuốt cá bé. Theo cách nhìn của tôi, nếu mình yếu, nên để người ta lấn át để học hỏi và nhờ đó tìm ra thế mạnh của mình. Giống như bóng đá vậy, mình chơi dở mà không dám thi đấu với những đội mạnh hơn thì sẽ dở hoài. Phải thi đấu, càng học nội lực càng mạnh, sức cạnh tranh gia tăng. Đó là học phí phải trả để tăng trưởng. Nếu không cứ èo uột hoài.
Cách đây 20 năm khi tôi bước chân vào thị trường Trung Quốc, đa số các công ty còn rất yếu, họ cầu cạnh chúng tôi mua lại vì các công ty Mỹ có chiến lược kinh doanh bài bản, quản trị chuyên nghiệp. Nhưng sau 10, 15 năm, khi đã học hỏi được kinh nghiệm, họ quay ngược lại trở thành đối thủ cạnh tranh rất hiểm hóc. Chính sách mở cửa làm ăn với Trung Quốc vẫn là một cuộc tranh luận ở Mỹ. Trong một cuộc chiến, nhìn về lâu dài, chưa biết ai hơn ai thua, điều đó tuỳ vào sức mạnh nội lực. Dùng chữ “thôn tính” ở đây tôi e hơi quá khích. Tôi tin trong kinh tế toàn cầu, phần lớn là sự cộng hưởng để tăng trưởng.
Nhìn từ góc độ quản trị, theo ông vì sao các doanh nghiệp Việt Nam rất khó khăn khi chuyển từ một doanh nghiệp “gia đình trị” sang doanh nghiệp đại chúng?
Đó cũng là bài toán mà các doanh nghiệp Trung Quốc và Đông Nam Á đang đối diện. Từ một doanh nghiệp gia đình chuyển sang một doanh nghiệp có sự minh bạch trong tài chính, tham dự của nhiều người trong hội đồng quản trị, việc thay đổi tư duy, lề lối làm việc sẽ khó khăn là đương nhiên. Khi một doanh nghiệp tập trung quyền lực theo kiểu gia đình trị, luôn luôn có nghi kỵ, giấu giếm với đối thủ, với người ngoài, điều đó làm cho họ ngày càng yếu đi. Để sống còn, chính họ sẽ phải tuân theo sự điều chỉnh của thị trường. Thế hệ mới sẽ thay đổi, đó là bắt buộc. Nhưng tôi lạc quan khi quan sát các công ty Trung Quốc, Thái Lan, Singapore…: khi người cha bước ra khỏi đó, một lớp trẻ mới đi học từ Âu Mỹ về có tầm nhìn, suy nghĩ giống nhau, cởi mở hơn, điều đó tạo nên sức mạnh mới cho họ.
Tư duy khác biệt nào đã giúp ông thành công ở Mỹ và Trung Quốc? Ông đã từng phải trả giá đắt như thế nào cho những thành công ấy?
| Nguy hiểm nhất với doanh nhân không phải là khi ở dưới đáy, mà chính khi ở trên đỉnh vinh quang, người ta dễ quên đi nhiều thứ, dễ bị té nhất. |
Một tư duy giúp tôi rất nhiều trong kinh doanh là không sợ thất bại. Coi thất bại như người bạn thay vì kẻ thù. Thất bại dạy tôi nhiều thứ. Nếu sợ thất bại, sẽ chẳng dám làm khác, hạn chế rất nhiều khả năng sáng tạo.
Thực tình khi trẻ người ta thường táo bạo, đó là đặc tính của con người. Chuyện táo bạo khiến tôi có nhiều bước ngoặt khá ly kỳ, dù có khi té giập mặt. Trong đời làm ăn, tôi lên voi xuống chó cũng nhiều. Nhưng giờ lớn tuổi rồi, ít mạo hiểm hơn, điều đó đồng nghĩa với thành công không còn được như xưa, thất bại cũng sẽ ít hơn. Đặc tính chung của doanh nhân khi bước qua một ngưỡng nào đó, họ bắt đầu chậm lại. Ngoài ra, có một yếu tố vô cùng quan trọng là sự may mắn. Táo bạo mà không may mắn sẽ thành ngu xuẩn, tôi đã từng như thế. Kinh doanh là trải nghiệm “thực” nhất trên chốn giang hồ. Những trải nghiệm thực ấy cho tôi nhiều cảm xúc, đến giờ này vẫn sống rất mạnh trong tôi. Với tôi cuộc đời không phải là một sự tập hợp của những ngày tháng mà là sự tập hợp của những trải nghiệm, không phải sống bao lâu, mà là sống như thế nào. Ngày trẻ, tôi mơ làm giáo sư đại học, bây giờ, tôi hạnh phúc vì được sống cuộc đời doanh nhân.
Làm thế nào để ông có thể đứng dậy sau mỗi lần thất bại?
Đừng đổ lỗi cho ai khác, hơn 80% thất bại là do nội lực của mình. Tôi đã ba lần gần như phá sản. Lần đầu tiên năm tôi 30 tuổi, từng làm chủ đầu tư và đối tác cổ đông của nhiều công ty nổi tiếng Việt Nam như Dona foods, Điện Quang, sữa Foremost, Mekong Car sản xuất xe La Dalat… với tài sản ước tính 7 triệu USD. Nhưng sau 1975, thế cờ xoay vần, tôi mất hết, sang Mỹ chỉ còn 600 USD trong túi. Năm 1982, khi đang làm địa ốc bên Mỹ rất thành công, kinh tế Mỹ suy thoái, lãi suất ngân hàng lên 18 – 19%, tôi phải buông tay, mất trên 10 triệu USD. Lần thứ ba khi thị giá công ty Hartcourt đạt mức 700 triệu USD trên sàn chứng khoán Mỹ, tôi bắt đầu phát triển Hartcourt ào ạt. Khi bong bóng dotcom bắt đầu xìu xuống, các đầu tư dàn trải đòi hỏi một nhu cầu về vốn rất cao mà Hartcourt không thể kiếm được khi bong bóng vỡ. Đến năm 2002, thị giá Hartcourt sụt xuống còn 100 triệu USD, 600 triệu USD không cánh mà bay!
Nguy hiểm nhất với doanh nhân không phải là khi ở dưới đáy, mà chính khi ở trên đỉnh vinh quang, người ta dễ quên đi nhiều thứ, dễ bị té nhất. Tham vọng cùng những lời ca tụng, tâng bốc đã đẩy tôi đi quá xa thực tế. Tôi kiêu căng, liều lĩnh, mất đi trọng điểm về mục tiêu công việc cũng như đời sống cá nhân. Đó là kẻ thù tồi tệ nhất không chỉ với riêng tôi mà với rất nhiều doanh nhân khác khi mới đạt được thành công bước đầu. Nhưng tôi không suy nghĩ nhiều về những mất mát, và luôn tin cái gì chết đi cũng sẽ hồi sinh.
Ông suy nghĩ như thế nào về chuyện được mất và sức lôi cuốn của đồng tiền?
| Ông Trần Sĩ Chương, chuyên gia kinh tế: “Một con người uyên bác, đã sống ba đời trong một đời người. Sau một thời gian dài “lưu lạc giang hồ”, anh cũng như phần lớn Việt kiều chúng tôi, đều thấy một cơ hội lớn ở Việt Nam, đó là truyền lại kinh nghiệm, kiến thức sống và làm ăn cho thế hệ trẻ. Một việc làm có ý nghĩa lớn, giúp anh phấn khởi, lạc quan hơn trong sự trở về. Có lẽ anh đã tìm được lẽ sống ở Việt Nam. Anh đang làm công việc này rất tốt, với doanh nhân cũng như các bạn trẻ, sinh viên. Tôi ngưỡng mộ những gì anh đang làm. Là loại người hiếm, không sợ vạch áo cho người khác thấy lưng mình đầy thẹo, anh là một diễn giả hạng A, vì ngoài kiến thức, anh còn thấy được cái bao quát, toàn thể, cộng với cách nói dí dỏm, nên người nghe cảm thấy rất hấp dẫn, vừa học được nhiều”. Ông Vũ Quang Dương, nguyên trưởng cơ quan đại diện thương mại Việt Nam ở Hong Kong: “Là nhà phân tích tài chính ở phố Wall, doanh nhân Việt kiều đầu tiên đưa công ty của mình lên sàn chứng khoán Mỹ, chuyên gia tư vấn về các thị trường đang nổi cho các công ty đa quốc gia tại Mỹ và châu Âu… những dự báo về kinh tế Việt Nam, Trung Quốc của anh tương đối chính xác, thường đi trước năm năm. Một con người thẳng thắn, trung thực, nên đôi lúc cũng gặp khó. Nhưng anh không sợ mất lòng, vì anh cho rằng một nhà khoa học, một trí thức thì phải nói thẳng. Thông minh, chịu khó học hành, không thích phô trương, rất nặng lòng với quê hương, anh cố gắng thực hiện bằng được di chúc cha để lại, đó là phải làm được điều gì có ích để góp phần giúp đỡ đất nước, quê cha đất tổ thoát khỏi nghèo khó. Sống hết mình và rất cởi mở với bạn bè”. |
Nói chung, cuộc đời mọi người chứa nhiều chua cay trong lựa chọn. Khi nhận được một cái gì, đồng nghĩa với mất nhiều thứ khác, như thời gian cho gia đình, bạn bè, cho riêng tư. Suy nghĩ cũng hạn hẹp hơn khi mình quá chú tâm vào kinh doanh. Cái mất lớn nhất là sự thanh bình trong tâm hồn vì áp lực hàng ngày tàn phá. Với tôi, mất mát lớn nhất là sức khoẻ. Do bay liên tục, sống trong khách sạn nhiều hơn ở nhà, tôi đã bị đau tim nặng và phải giải phẫu. Đó là cái giá phải trả cho sự thành công. Tôi nói điều này để các bạn trẻ suy nghĩ trước khi lựa chọn nghiệp doanh nhân: phải làm những gì mình thực sự đam mê, nếu không sẽ rất dễ bỏ cuộc.
Người đàn ông có bốn thứ lôi cuốn, đó là tiền, danh, quyền, và nhục dục. Những ham muốn hay lôi kéo mình đi lầm đường. Làm chủ được nó hay không là tuỳ sức mạnh bên trong của mình thôi.
Từng có rất nhiều tiền, và cũng từng trắng tay... từ khi nào ông đã thoát khỏi sự vây bủa của đồng tiền, để tìm thấy tự do thực sự, để yêu cuộc sống chỉ vì niềm vui sống?
Thực tình cho đến giờ tôi vẫn chưa thoát khỏi sự vây bủa của đồng tiền. Đối với tôi đồng tiền không quan trọng lắm, nhưng tất cả những gì tôi yêu đều cần tiền. Tuy nhiên, tôi biết cách né để tránh những lưới bẫy quá nặng. Kinh doanh, viết sách, blog Góc nhìn Alan của tôi luôn có số lượng người đọc cao... đó là sức mạnh giúp tôi có thể làm nhiều việc trong một lúc với niềm hưng phấn lúc nào cũng mãnh liệt. Mỗi người đều tự đi tìm ý nghĩa mục đích cho đời mình, và cứ thế lên đường thôi. Ôn lại những bôn ba giúp tôi bình tâm trở lại. Hạnh phúc với tôi bây giờ là sự tự do. Tự do làm những gì mình muốn làm, nghĩ cái gì mình muốn nghĩ, sống lối sống mà mình thích sống. Tự do không lo nghĩ về đồng tiền, về sức khoẻ, về danh lợi quyền thế… Đương nhiên tự do chỉ là tương đối, vì con người còn quá nhiều gánh nặng khi nghĩ đến xung quanh. Cố gắng sống như lời Trịnh Công Sơn, “mỗi ngày chọn một niềm vui”. Hạnh phúc nhất là khi ngủ dậy thấy mình mạnh khoẻ, suy nghĩ phải làm gì cho ngày hôm nay vui hơn. Tôi đã viết ra một danh sách 100 chuyện phải làm trước khi chết, và đã làm được… 42 chuyện. Tôi cũng không bị áp lực có làm hết 100 chuyện ấy không, đó là tự do mà tôi muốn nói. Bây giờ, tôi không còn nhiều ràng buộc nữa. Nói về chuyện đất nước, có người bàn ra bàn vào cũng vui, vì như thế là cái đầu mình không bị trì trệ, bản thân mình cũng nhờ thế mà thoát khỏi sự yếm thế, hằn học, ganh tỵ.
Khả năng hài hước, tự trào của ông có được do bản tính hay là kết quả của một quá trình trải nghiệm?
Có lẽ do bản tính, sau nữa là nhờ “góc nhìn”. Với tôi chẳng có gì là quan trọng. Khi Vietnam net báo tin bài Quê hương sao già nua của tôi có 22.000 người đọc, tôi hỏi vậy những bài nào có số người đọc nhiều nhất, họ trả lời: “Bất cứ bài gì về Cường đôla và Hồ Ngọc Hà đều có hơn 600.000 người đọc. Riêng bài cô gái bị rắn cắn đâm ra cuồng… sex có gần 1 triệu người đọc!” Có lẽ ông Alan phải để cho rắn cắn, để có người đọc nhiều hơn! (cười hóm hỉnh). Nói thế để đừng bao giờ có những hoang tưởng về sự quan trọng của mình.
tranhuuuy | 11 November, 2011 20:04
Hôm nay ngày 11 tháng 11 năm 2011, một ngày rất đặc biệt có đến 6 số 1, toàn nhất, người TQ gọi là Lục Nhất. Phải 100 năm nữa mới lập lại.
Mình học Fulbright khoá 11 (FETP11) và một người bạn trong lớp, làm việc ở An Giang tổ chức đám cưới vào lúc 11 giờ hôm nay. Không tham dự được chỉ email chúc mừng Trăm năm hạnh phúc.
Tìm hiểu thêm, con số 11 này còn có nhiều ý nghĩa khác:
11.11.1918: Ngày đình chiến, kỷ niệm ngày kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất, Ngày Độc lập của đất nước Ba Lan.
11 cầu thủ của đội bóng đá, bóng bầu dục.
Đáy biển sâu nhất thế giớ 11 km.
Phi thuyền đầu tiên lên mặt trăng là appolo 11. ....
Sinh năm 1965, Quê quán: Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cựu SV ĐH Bách Khoa Đà Nẳng, ĐH Khoa học Huế, Chương trình kinh tế Fulbright, Cao học Kinh tế ĐH Kinh Tế TPHCM.
Nghề nghiệp: Quản lý dự án & Đầu tư xây dựng.
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Su | Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 |
| 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |
| 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 |
| 29 | 30 | 31 | ||||